Lời Sống - Tháng 6 năm 2009

“Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy,
thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm được gì.”
(Ga 15:5)
Bạn có tưởng tượng được một cành tách rời khỏi cây nho không? Nó không có tương lai, không còn hi vọng gì nữa, không sinh hoa trái và chỉ còn nước khô héo và đốt đi thôi.
Hãy nghĩ đến cái chết tinh thần Bạn sẽ chịu như một tín hữu Kitô, nếu Bạn không hiệp nhất với Chúa Kitô. Thật đáng sợ! Đó là sự khô cằn hoàn toàn, cho dầu Bạn vất vả từ sáng đến tối, cho dầu Bạn tưởng mình làm lợi cho nhân loại, cho dầu bạn hữu vỗ tay khen thưởng Bạn, cho dầu của cải trần gian tăng thêm, cho dầu Bạn hi sinh đáng kể. Tất cả những điều đó có ý nghĩa cho Bạn trên trần gian, nhưng không nghĩa lý gì đối với Đức Kitô và cho trường cửu. Và chính cuộc sống đó mới quan trọng hơn.
“Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy,thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm được gì.” (Ga 15:5)
Làm sao Bạn có thể ở lại nơi Đức Kitô và Người ở lại nơi Bạn được? Làm sao nên cành xanh tươi và cứng rắn hợp với thân nho được?
Trước hết Bạn cần phải tin vào Đức Kitô. Nhưng điều đó chưa đủ. Đức tin của Bạn phải đi vào chiều kích cụ thể của cuộc sống. Nghĩa là Bạn phải sống phù hợp với niềm tin ấy, bằng cách đem ra thực hành những lời Đức Giêsu dạy.
Như thế Bạn không thể bỏ qua những phương thế thần linh Đức Kitô đã để lại cho Bạn, nhờ đó Bạn có được hoặc tìm lại được sự hiệp nhất với Người đã bị sứt mẻ.
Và rồi Đức Kitô sẽ không cảm thấy Bạn vững vàng nơi Người, nếu Bạn không nỗ lực tháp nhập vào cộng đoàn Giáo hội, vào Giáo hội địa phương của Bạn.
“Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy,thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm được gì.” (Ga 15:5)
Bạn có thấy Đức Kitô nói về sự hiệp nhất giữa Bạn với Người thế nào, nhưng Người cũng nói đến sự hiệp nhất của Người với Bạn nữa không? Nếu Bạn hiệp nhất với Người, và Người nơi Bạn, thì Người hiện diện trong thâm tâm Bạn. Và từ đó nẩy sinh một mối liên hệ và một cuộc chuyện vãn của tình thương yêu lẫn nhau, một sự cộng tác giữa Chúa Giêsu và Bạn, môn đệ của Người.
Và đây là hiệu qủa: đó là sinh nhiều hoa trái, đúng như một cành hợp nhất chặt chẽ với cây nho đem lại những chùm nho ngọt ngào.
“Nhiều hoa trái” có nghĩa là Bạn sẽ có đem lại hoa trái thực sự trong việc tông đồ, nghĩa là Bạn có khả năng mở mắt nhiều người nhìn đến những lời duy nhất, cách mạng của Đức Kitô, và Bạn sẽ có khả năng đem đến cho họ sức mạnh để sống theo những lời ấy. “Nhiều hoa trái” cũng có nghĩa là Bạn sẽ biết khơi dậy, hoặc xây đắp những công cuộc lớn nhỏ hầu nâng đỡ nhiều nhu cầu khác nhau của thế giới theo những đặc sủng Chúa đã ban cho Bạn.
“Nhiều hoa trái” có nghĩa là “nhiều”, chứ không phải là “ít”. Điều đó có thể có nghĩa là Bạn sẽ biết đưa vào nhân loại quanh mình một luồng gió sự thiện, sự hiệp thông, tình yêu thương lẫn nhau.
“Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy,thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm được gì.”(Ga 15:5)
Nhưng “nhiều hoa trái” không chỉ có nghĩa là sự thiện tinh thần cùng vật chất của người khác, nhưng cả của Bạn nữa.
Cả việc phát triển nội tâm, cả việc thánh hoá mình cũng tùy thuộc vào sự hiệp nhất của Bạn với Đức Kitô.
Thánh hoá mình. Có lẽ từ này, với thời gian, đối với Bạn xem ra lỗi thời, vô ích, hay vô tưởng.
Không phải như vậy. Thời gian hiện tại sẽ qua đi và cùng với nó là những cái nhìn phiến diện, sai lầm, không chính yếu. Sự thật sẽ tồn tại. Hai ngàn năm trước, thánh Phao-lô Tông đồ nói rõ rằng Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người Kitô nên thánh. Thánh Tê-rê-sa người Avila, tiến sĩ Giáo hội, đoan chắc rằng bất kỳ ai, cả người đang lữ hành, đều có thể đạt đến sự chiêm niệm cao cả nhất. Công đồng Va-ti-ca-nô II dạy rằng toàn thể dân Chúa đều được mời gọi nên thánh.
Đó là những lời chắc chắn.
Vì thế Bạn cũng hãy tìm cách thu lượm trong cuộc sống mình “nhiều hoa quả” thánh thiện, là điều chỉ có thể thực hiện được nếu Bạn hiệp nhất với Đức Kitô.
“Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy,thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm được gì.” (Ga 15:5)
Bạn có nhận thấy Chúa Giêsu không đòi trực tiếp hoa quả, mà Người coi đó như hiệu quả của việc “hiệp nhất” với Người không?
Có thể Bạn cũng sa vào lầm lỗi mà nhiều người Kitô mắc phải: đó là tính ham hoạt động, làm việc, làm việc vì lợi ích cho người khác, mà không có giờ để xem họ có hoàn toàn hiệp nhất với Đức Kitô không.
Đó là một sai lầm: người ta tưởng là đem lại hoa quả, nhưng đó không phải là hoa qủa của Đức Kitô nơi Bạn, mà Đức Kitô cùng Bạn mang lại.
Để mang lại hoa quả lâu dài, hoa quả mang dấu thần linh, thì cần phải hợp nhất với Đức Kitô, và Bạn càng hợp nhất với Đức Kitô bao nhiêu thì Bạn càng mang lại nhiều hoa qủa bấy nhiêu.
Hơn nữa động từ “ở lại” Chúa Giêsu dùng cho ta hiểu rằng đó không phải là những lúc ta mang lại hoa quả, cho bằng đó là một tình trạng sinh hoa qủa lâu dài.
Đúng vậy, nếu Bạn biết những người sống như vậy, thì Bạn sẽ thấy là có thể bằng một nụ cười giản di, bằng một lời nói, bằng cử chỉ thông thường, bằng thái độ trước những hoàn cảnh khác nhau trong cuộc sống, những người này đánh động cõi lòng, đôi khi đến chỗ làm cho người ta tìm lại được Thiên Chúa.
Các thánh nhân đã làm như vậy. Nhưng chúng ta không được ngã lòng. Cả những tín hữu Kitô thường cũng có thể mang lại hoa quả. Bạn hãy nghe đây.
Chúng ta đang ở nước Bồ-đào-nha. Cô Maria lên đại học sau khi xong trung hoc. Môi trường ở đây khó khăn. Nhiều người bạn của cô tranh đấu theo ý thức hệ của họ, và mỗi người đều muốn lôi kéo những sinh viên chưa quyết định theo phe mình.
Cô Maria biết rõ con đường của mình, cho dầu không dễ giải thích cho người khác: đó là theo Chúa Giêsu và hiệp nhất với Người. Những người bạn không biết gì về tư tưởng của cô, liệt kê cô vào loại không định hướng, không lý tưởng. Đôi khi cô cảm thấy ngại ngùng, nhất là khi vào nhà thờ. Nhưng cô vẫn đi nhà thờ, vì cảm thấy mình cần phải hiệp nhất với Chúa Giêsu.
Lễ Giáng sinh gần đến. Cô Maria nhận thấy trong số các sinh viên có người không thể về nhà, vì quá xa, và cô đề nghị những người bạn khác cùng mua quà tặng cho những người ở lại. Cô bỡ ngỡ thấy mọi người đều đồng ý ngay lập tức.
Ít lâu sau có những cuộc bầu phiếu và lại một bất ngờ khác, cô đã được chọn làm người đại diện cho cả khoá. Nhưng còn bất ngờ hơn nữa khi cô nghe nói: “Chị được bầu là đúng rồi, vì chị là người duy nhất có đường lối rõ ràng, là người biết mình muốn gì và phải thực hiện ra sao”. Bây giờ có vài sinh viên muốn biết về lý tưởng của cô và muốn sống như cô.
Đó là một kết quả tốt cho việc cô Maria kiên trì hiệp nhất với Chúa Giêsu.

Chiara Lubich

Đối Thọai - Sợ Nói

“Gần đây, tôi tái nhận ra được giá trị và tầm quan trọng của sự tinh khiết. Hiện nay, tôi đang yêu một người con trai cùng chia sẻ gia trị với tôi, tôi sợ nói với người đó về kinh nghiệm ngày xưa của mình vì mắc cỡ. Một người có thể bắt đầu lại sau những vết thương và bắt đầu một quan hệ với chính bản thân mình và người khác”. Thỉnh thoảng, quá khứ của chúng ta giống như một gánh nặng. Bắt đầu lại có nghĩa là phá vỡ một điều gì đó không còn ở hiện thực, và đặt một hòn đá mới xây dựng cuộc sống của mình. Điều đó có nghĩa là tin vào bất cứ điều gì tốt đẹp giữa chúng ta, giữ một trạng thái rõ ràng trong đầu những điều mà chúng ta muốn đạt được như trở thành một con người hay tạo dựng một kiểu gia đình. Điều này luôn luôn có thể. Trong trường hợp của bạn, phát hiện lại giá trị của sự trong trắng là mở ra một tương lai mới. Thực tế, đó là đường đến hạnh phúc thật, điều đòi hỏi từ trách nhiệm cho đến tôn trọng người khác. Đó là sự đầu tư lâu dài giá trị mà bạn có thể làm để xây dựng mot gia đình. Tất cả những điều này thay đổi hướng của cuộc sống bạn khiến bạn trở thành một người hoàn toàn mới. Bên cạnh đó, nếu bạn tin vào lòng từ nhân của Thiên Chúa, nếu bạn đặt hết tin tưởng vào Ngài, Ngài sẽ quên hết mọi lỗi lầm của bạn. Ngài sẽ dẫn đường, bạn hi vọng, sức mạnh cho bạn tiếp tục đi tới. Nói một cách con người, chúng ta không có khả năng quên hay bỏ quá khứ sang một bên. Nhưng chúng ta có thể chào đón điều đó bằng con người chúng ta. Chỉ bằng cách này, chúng ta mới có thể mang ý nghĩa lại cho những kinh nghiệm trong quá khứ, làm nó trở nên có giá trị cho cả chúng ta hôm nay và những người khác vào ngày mai. Với khả năng tot hơn, chúng ta hiểu và đón nhận người khác bằng kinh nghiệm mà chúng ta đã từng có. Sự tôn trọng lớn hơn hiện nay dành cho bản thân và tình yêu thực sự mà chúng ta đang cố gắng hết sức thể hiện cho người bên cạnh mình sẽ giúp bạn trở nên đáng tin cậy, nó liên quan đến kinh nghiệm đã qua của bạn. Bạn không chỉ giải phóng bản thân khỏi cảm giác tội lỗi hoặc giải quyết những vấn đề rắc rối cá nhân, nhưng còn mang tình yêu, xây dựng mối quan hệ của bản thân và tương lai của bạn. Từng phải chịu đựng quá nhiều và bước đi trên con đường đau khổ có thể so sánh với sức mạnh của gió trong một cơn bão, nó quét hết những đám mây và mang lại một bầu trời xanh. Nào, đừng giữ sức mạnh này cho mình bạn. Cố gắng mang điều đó đến mọi người, cùng với sự nhiệt tình của bạn và những niềm vui trong cuộc sống. Bạn sẽ nhận ra rằng bạn có thể trở thành một cơn gió đầy sức mạnh về niềm tin và hi vọng cho người khác. Bạn có thể trở thành cơn gió mạnh cho ngay người bạn trai của mình.
J. P.

Suy Niệm - Những Bất Trung Có Giúp Ích gì?

Nếu chúng ta sống yêu thương, Thiên Chúa sử dụng tất cả để thực hiện dự án ca Ngài trên chúng ta. Nếu chúng ta sống yêu thương, Thiên Chúa “tận dụng” tất cả, trong đó cả những bất trung và những thiếu cân xứng, bởi vì cho kẻ yêu mến Thiên Chúa tất cả mọi sự đều cộng tác cho điều thiện hảo. Nhưng có ai đó không tin, nghĩ rằng: cái “tất cả” này chỉ muốn nói lên những điều tích cực. Không phải như thế. Thánh Catarina nhìn nhận điều những người khác nói và xác nhận rằng: “Tất cả những gì Thiên Chúa muốn hoặc cho phép xảy ra (Người cho phép những thiếu cân xứng của chúng ta xảy ra) đều nhằm đến sự nên thánh của chúng ta”. Chúng ta có thể thêm vào: “Tất cả những gì Thiên Chúa muốn hoặc cho phép xảy ra đều là “Con Đường Đức Maria”, đều giúp ích cho “Con Đường Đức Maria”. Nhiều lần Thiên Chúa cho phép những bất trung của chúng ta xảy ra, để đặt những nền tảng vững chắc cho lòng khiêm nhượng. Thực vậy, chúng ta cần có nhân đức này để xây dựng Chúa Kitô trong chúng ta. Về Đức Maria, người ta nói rằng Thiên Chúa hài lòng về sự tinh khiết của Mẹ, nhưng chính vì sự khiêm nhường của Mẹ mà Thiên Chúa Nhập Thể trong Mẹ. Vậy, lòng khiêm nhượng là điều cần thiết. Nếu thiên Chúa thấy chúng ta có một chút phô trương, một chút kiêu hãnh, một chút ích kỷ, có thể Ngài để một điều gì xảy đến làm chúng ta đau khổ. Nhưng là để nhằm đến một điều tốt.
C.L.

Linh Đạo - Tình Yêu Hỗ Tương

Tình yêu, và chỉ có loại tình yêu này mới là Kitô giáo, và việc làm cho tình yêu này lan toả là cuộc cách mạng mà người Kitô hữu phải thực hiện. Chiara Lubich tiếp tục giải thích về Nghệ Thuật Yêu Thương.
Tình yêu trong Nghệ Thuật Yêu Thương đưa đến tình yêu hỗ tương, nghĩa là yêu thương nhau đến nỗi xứng đáng được ban tặng sự hiệp nhất. Tự sức mình, chúng ta không thể đem lại sự hiệp nhất. Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho hiệp nhất, nhưng Ngài không đòi hỏi chúng ta phải có hiệp nhất, Thay vì vậy Ngài đã cầu xin Chúa Cha. Chúng ta có thể làm phần vụ của mình là khía cạnh khổ hạnh của tình yêu, còn chiều kích thần bí, khi Chúa Giêsu đến hiện diện ở giữa chúng ta, thì phải đến từ Trời. Theo kinh nghiệm của mình, chúng tôi thấy là sự hiệp nhất đến từ Thánh Thể, là mối liên kết chúng ta. Chính trong Thánh Thể mà chúng ta được thần thánh hóa, được biến đoi thành Thiên Chúa, và lúc đó, Thiên Chúa ở giữa chúng ta. Ngài ở ngay đây, Ngài cũng ở đó, Ngài ở bất cứ nơi nào chúng ta có mặt, bởi vì chúng ta ở trong Ngài, dĩ nhiên là như vậy.
Tình yêu hỗ tương là một báu vật, là hạt ngọc vô giá của Tin Mừng. Khi Ngôi Lời làm người, Ngài đã thích nghi với lối sống của trần gian. Ngài đã làm một trẻ thơ, đã lớn lên và đã là một con người lao động, thế nhưng Ngài cũng mang theo lối sống Nước Trời của Ngài. Ngài muốn cho loài người và mọi thứ khác được đi vào một trật tự mới, theo luật của Nước Trời: đó là tình yêu hỗ tuơng, giống như tình yêu giữa Ba Ngôi cực thánh.
Vì vậy mà Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng có một điều răn mà Chúa đặc biệt yêu quý. Ngài gọi điều răn đó là điều răn mới và là điều răn của chính Ngài: “Thầy truyền cho anh em một điều răn mới là Hãy yêu thương nhau…” Khi nói về điều răn này, Ngài cũng cho chúng ta mức đo lường của tình yêu hỗ tương: Chúng ta phải yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta. Ngài nói: “Anh em hãy yêu thương như Thầy đã yêu thương anh em”.
Nhưng Ngài đã yêu thương chúng ta như thế nào? Ngài đã yêu thương chúng ta bằng cách hy sinh mạng sống vì chúng ta... Có thể chúng ta chẳng bao giờ phải hy sinh sự sống của mình cho người khác theo nghĩa là chết đi vì người khác, như Chúa Giêsu đã phải chết. Tuy nhiên để có thể thật sự yêu mến người bên cạnh, chúng ta phải trải qua những cái chết lớn hay nhỏ mà tình yêu hỗi tương đòi hỏi: nghĩa là quên mình đi, không gắn bó với của cải, ý tưởng hay là lợi ích của riêng mình, có thể hoàn toan hiệp nhất với người đau khổ - và nhờ đó làm giảm bớt nỗi đau cho người ta, hay là để được hiệp nhất với người vui mừng để làm tăng lên niềm vui của họ.
Việc này thật sự đòi hỏi chúng ta phải chết đi. Sống vì người khác, sống thân phận người khác, có nghĩa là từ bỏ quyền lợi của mình, và đây là một kiểu chết đi trên phương diện thiêng liêng. Khi chúng ta bắt đầu yêu thương người khác theo kiểu này và được yêu thương lại như vậy, thì chúng ta sẽ được chuyển từ bậc này lên bậc khác cao hơn trong đời sống nội tâm. Chúng ta sẽ có thể hiểu được, theo một cách mới mẻ, những ân sủng của Thần Khí: đó là một niềm vui chưa từng được nếm trải trước đây, sự bình an, lòng đầy thiện ý, tính quảng đại…
Nhờ vậy chúng ta nhận được ánh sáng mới giúp chúng ta nhìn được mọi biến cố với cái nhìn của Thên Chúa.
Cùng lúc, tình yêu phổ quát làm chứng cho Đức Kitô trên trần gian. Thật vậy Chúa Giêsu đã nói: “Cứ dấu này mà người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy, đó là anh em yêu mến nhau”.
Các giáo hội khác nhau cũng phải yêu mến nhau. Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha: “Xin cho tình yêu Cha dành cho con được ở trong họ và con ở trong họ”. (Ga 17, 26)
Đáng tiếc thay, chúng ta quên mất di chúc này của Ngài và đã làm thế gian sửng sốt vì những chia rẽ của chúng ta – cái thế giới mà lẽ ra chúng ta phải chinh phục vì danh Ngài. Vì vậy, qua nhiều thế kỷ, mỗi giáo hội đã, phần nào đó, trở nên xơ cứng trong cách hành xử, vì từng lớp từng lớp sóng dồn dập từ thái độ dửng dưng, từ những hiểu lầm và ngay cả từ lòng căm hận nhau nữa. Giờ thì trong mỗi cộng đồng của chúng ta cần có thêm một lượng tình yêu lớn lao hay nói đúng hơn là Kitô giáo cần được tràn ngập bằng một tình yêu mạnh mẽ như thác nước.
Vì thế chúng ta cần có một tình yêu và là tình yêu hỗ tương giữa các Giáo hội, thứ tình yêu làm cho chúng ta đặt mọi sự làm của chung khi mà mỗi người chúng ta trở thành quà tặng cho nhau. Như vậy chúng ta có thể thấy trước được trong Giáo hội tương lai là sẽ chỉ có một sự thật, nhưng được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, được nhìn từ nhiều góc độ, và được làm cho đẹp xinh vì có nhiều cách diễn giải.
C.L.

Gặp Gỡ - Ngài W.D. Mohammed: Vị Lãnh Đạo Hồi Giáo Của Hòa Bình

Hàng ngàn người đã đến tham dự lễ an táng của ngài W.D. Mohammed, vị lãnh đạo Hồi giáo người Mỹ gốc Châu Phi, người đã từng là một trong những chủ tịch của Hội đồng thế giới các Tôn giáo vì Hoà Bình và là vị lãnh đạo tinh thần cua hàng ngàn ngàn người Hồi giáo tại Hoa Kỳ.
“Chúng ta càng quyết tâm hơn nữa để cùng nhau đồng hành trên con đường đã được hai vị lãnh đạo vĩ đại của chúng ta mở ra”. Chị Emmaus Maria Voce, vị chủ tịch của Linh Đạo Hiệp Nhat đã quả quyết như vậy với những người theo ngài W.D. Mohammed, “vị Imam đáng kính yêu của chúng ta, người đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho hoà bình và tình huynh đệ đại đồng”. Suốt hơn mười năm qua, đã có một tình bạn thieng liêng sâu xa giữa Chiara Lubich và ngài Imam. Do uy tín của mình, Ngài Imam đã được công nhận như là vị lãnh đạo quan trọng nhất của những người Mỹ theo đạo Hồi. Ngài đã qua đời tại nhà riêng ở Markham, thuộc tiểu bang Illinois, vào ngày 9 tháng 9 năm 2008 vừa qua, hưởng thọ 74 tuổi.
Một tờ báo Mỹ đã viết “Hàng ngàn người đến từ khắp các vùng ở Hoa Kỳ đã đến dự lễ an táng Ngài và tôn kính ngài như là vị lãnh đạo Hồi giáo lớn nhất tại Hoa Kỳ”. Tờ báo cũng nói tiếp “Nhiều nhóm Hồi giáo vốn đã từng bị sâu xé trong quá khứ vì những chia rẽ nội bộ đã thấy mình được hiệp nhất với nhau nhờ sự hiện diện của người đã từng dâng hiến cuộc đời mình cho việc xây dựng hiệp nhất. Một trong những người theo ngài Mohammed đã diễn tả cảm tưởng của mình như sau: “Ngày 11 tháng 9 là một ngày đau buồn cho người Hồi giáo. Tuy nhiên hôm nay lại là một ngày đem lại niềm hãnh diện cho chúng tôi”.
Năm 1975, ông Elijah Mohammed, thân phụ ngài lúc đó đang hấp hối trên giường bệnh, đã trao cho ngài W.D. Mohammed trách nhiệm lãnh đạo “Quốc gia Hồi giáo,” vốn là cộng đồng người Mỹ gốc Châu Phi do chính ông thành lập nhằm làm cho đời sống người Mỹ gốc Châu Phi được tốt đẹp hơn về mặt đạo lý và xã hội. Ngài W.D. Mohammed sau đó đã nỗ lực đem lại cho những người đi theo ngài một sự hiểu biết về đạo Hồi trung thành với gốc rễ cua đạo Hồi, vốn nhấn mạnh đến việc đón nhận mọi chủng tộc và tính phổ quát.
Ngài đã trở nên người xây dựng nhịp cầu giữa người Hồi giáo Mỹ gốc Châu phi và những người Hồi giáo di dân từ các vùng trung đông và Châu á, cũng như giữa người da trắng và người da đen. Vì những nỗ lực xuất sắc của ngài trong công cuộc đối thoại liên tôn giáo, ngài đã được đề cử làm một trong những chủ tịch của “Hội đồng Thế giới các Tôn giáo vì Hoà bình”.
Cuộc đồng hành của ngài Imam Mohammed và Chiara Lubich bắt đầu vào ngày 18 tháng 5 năm 1997 tại ngôi đền Hồi giáo Shabazz (còn gọi là đền Malcolm X) tại Harlem, ở New York. Đây là lần đầu tiên mà một phụ nữ da trắng theo Thiên Chúa giáo được mời đến nói chuyện trong đền thờ.
Ba ngàn người, gồm người Hồi giáo và các đại diện của Linh Đạo Hiệp Nhất, đã đến tham dự. Trong khi Chiara phát biểu, chia sẻ kinh nghiệm Kitô giáo của chị, kèm với những câu được trích từ Tin mừng và Kinh Koran cho thấy là người Kitô hữu và người Hồi giáo cùng có chung biết bao nhiêu là điều, thì chị đã phải từng chập ngưng nói vì những tràng vỗ tay và những tiếng kêu “Đấng Allah cao cả”. Ngay sau đó, trong một cuộc gặp riêng, ngài W.D, Mohammed và Chiara đã nhân danh Chúa làm một kết uớc là sẽ luôn luôn cùng nhau làm việc cho hoà bình và hiệp nhất.
Sự trung thành với kết ước đã đem đến nhiều hoa trái hiệp nhất giữa các cộng đoàn sống Linh Đạo Hiệp Nhất và những người theo ngài Imam: cuộc đối thoại cứ lớn dần và trở thành một dấu chỉ của hy vọng và ánh sáng cho nhiều người. Tầm quan trọng của việc này còn tăng hơn nữa sau biến cố ngày 11 tháng 9 (là vụ toà tháp đôi ở New York bị tấn công và sụp đổ).
Ngài Imam Mohammed và những người theo ngài đã nhiều lần đến Rôma để tham dự những cuộc họp giữa các tôn giáo do Linh Đạo Hiệp Nhất tổ chức. Năm 1999 ngài được mời nói chuyện trước Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trên quảng trường Thánh Phêrô, trong cuộc họp liên tôn để chuẩn bị cho năm Hồng Ân. Tại đây ngài đã đại diện cho những người Hồi giáo trên toàn thế giới. Vào dịp này Đức Thánh Cha cũng khuyến khích và ban phép lành cho cuộc đối thoại mà ngài Imam đã bắt đầu với Linh Đạo Hiệp Nhất.
Năm 2000 Ngài lại mời Chiara đến, lần này là để nói chuyện với 7.000 người theo Hồi giáo và theo Kitiô giáo trong một cuộc gặp gỡ hai ngày tại Washington, được gọi là “Các cộng đồng tín ngưỡng đến với nhau”, bởi vì theo lời ngài Imam thì “Hoa Kỳ cần được nghe tận tai thông điệp của chị và được thấy tận mắt sự hiệp nhất đang nối kết chúng ta lại”. Từ ngày đó, tại Washington, Los Angeles, Miami, Chicago, New York và nhiều thành phố khác của Hoa Kỳ, người ta đã tổ chức nhiều cuộc “Gặp gỡ trong Tinh thần Huynh đệ đại đồng”, hoặc những cuộc đối thoại, nơi mà Linh đạo Hiệp nhất được tìm hiểu từ cả hai góc độ Kitô giáo và Hồi giáo, kèm theo nhiều chia sẻ kinh nghiệm.
Cuộc họp gần đây nhất giữa ngài Imam Mohammed và các vị lãnh đạo của Linh Đạo Hiệp Nhất tại Chicago đã xảy ra chỉ vài ngày trước khi Ngài qua đời.
Ngài đã có ý định cùng đi với một nhóm tín hữu Hồi giáo đến cuộc họp toàn cầu cho cuộc đối thoại giữa Kitô giáo và Hồi giáo tại Castelgandolfo ở Rôma, từ ngày mồng 9 đến ngày 12 tháng 10 nhưng ngài đã được khuyên là không nên đi xa như vậy vì bệnh tim của ngài không cho phép.
Ngài Imam Mohammed là một con người sống hoàn toàn trong Chúa. Năm 2005, trong khi nói chuyện với 4.000 tín hữu Hồi giáo đi theo ngài tại một đại hội toàn quốc, Ngài đã mạnh mẽ qủa quyết: “chúng ta phải yêu mến mọi người theo cách chúng ta muốn được yêu mến. Chúng ta phải yêu mến người theo Kitô giáo để cho họ có thể trở thành những Kitô hữu tốt lành hơn; chúng ta phải yêu mến người Hồi giáo để cho họ có thể trở nên những tín hữu Hồi giáo tốt lành hơn.
Có một lần, khi được hỏi về mối tương quan giữa chị và ngài Imam Mohammed, Chiara đã nói “Tôi thấy thoải mái bên cạnh ngài bởi vì tôi cảm thấy như là Chúa đã đặt ngài Imam bên cạnh chúng ta, cũng như Chúa đã đặt chúng ta bên cạnh ngài Imam, có lẽ là vì một kế hoạch yêu thương của Chúa, mà chúng ta sẽ hiểu được theo chừng mực chúng ta đi sâu hơn vào hiệp nhất và cùng cộng tác với nhau”.
Khi Chiara về với Chúa vào tháng 4 năm 2008, ngài đã viết để tôn kính chị như sau: “Chúng ta sẽ tiếp tục nỗ lực xây dựng trên mối liên kết tôn giáo và thiện mỹ vốn là kết ước cùng nhau góp sức của chúng ta”.
Ngài Imam Mohammed đã nói trong một cuộc phỏng vấn, “Tôi cho là chúng ta có thể thoát khỏi nọc độc của thành kiến nếu chúng ta được chữa lành trên lãnh vực thiêng liêng. Đây là điều chúng ta có thể làm được. Đó là nhận ra mình là những con người theo các tôn giáo khác nhau nhưng cùng là thành phần của một nhân loại. Tôi nghĩ là chúng ta đang làm một công việc cao cả, để cho những người trước đây thù ghét nhau có thể thoát khỏi hận thù mà tìm thấy sự sống mới, hạnh phúc mới, vì gánh nặng thành kiến trong lòng họ đã được lấy đi”.
J. C

Kinh Nghiệm - Câu Chuyện Về Lòng Biết Ơn

Tôi muốn kể một câu chuyện trong cuộc sống chứa đầy phép lạ về cuộc sống và tình yêu thương. Đó là một câu chuyện về lòng biết ơn đời đời.
Tháng 8 vừa rồi, chồng tôi và tôi đi dự một cuộc họp. Nơi tôi đến, tôi nhìn thấy những dòng chữ viết trên tường từ Kinh thánh. Những dòng chữ đó đã khuấy động tâm hồn tôi những ngày qua. Lời hằng sống cho tháng đó không hẳn là mới đối với tôi, nhưng khi đọc nó, tôi đã cảm nhận trong nó một ánh sáng mới: “Hỡi kẻ yếu lòng tin, sao lại nghi ngờ?” (Mt. 14, 31).
Sau đó, tôi cảm thấy có một sự khao khát thay đổi để sống tốt những lời này. Tôi luôn luôn cầu nguyện với Chúa hãy cho tôi cơ hội để chứng tỏ lòng tin. Vài ngày trôi qua nhanh, khi tôi đang chuẩn bị ngủ, tôi nghe đứa con trai út Christophe khóc trong bóng tối. Mấy tháng nay nó bị đau đầu, khiến nó bị nôn mửa và mất cân bằng. Chúng tôi được biet rằng đó có thể là chứng đau nửa đầu hoặc mất thăng bằng có sẵn trong gia đình tôi. Chúng tôi được yêu cầu phải để ý Christophe, rất có thể bé bị tăng huyết áp vì hơi nặng ký. Hôm sau, chồng tôi và tôi quyết định đưa Christophe đi khám.
Sau khi khám và làm một vài kiểm tra ER, bác sĩ đề nghị cho Christophe thực hiện MRI. Điều đó có nghĩa, con trai chúng tôi có khối u tại não sau, kích cỡ bằng quả dưa đỏ, với vị trí đó, khối u này ngăn cản sự lưu thông của khí và chất lỏng lên và sẽ khiến con trai tôi bị chứng tràn dịch não, trên đỉnh đầu, gây ra đau đầu.
Khi tôi nghe tin này, ngay lập tức tôi nhớ lại lời đã cầu nguyện với Chúa mấy hôm trước đó. Tất cả những gì tôi muốn là xin cơ hội để thể hiện lòng tin, và đây chính là cơ hội đó. Ngay trước mặt tôi, trên gương mặt ốm yếu của con tôi. Trong nước mắt, tôi bật thành tiếng “xin vâng” và tôi quay sang chồng tôi và thuật lại chi tiết kinh nghiệm của mình. Chồng tôi nghe một cách im lặng, kính cẩn và đồng ý. Chúng tôi không biết làm thế nào và làm sao tốt nhất để chúng tôi qua khỏi thử thách này.
Chồng tôi và tôi chỉ có thể làm tốt nhất vai trò những người cha mẹ trên trái đất, tìm những phương pháp chữa bệnh tốt nhất cho con mình. Con trai chúng tôi… thậm chí điều đó cũng không còn đúng nữa. Chúng tôi đã dâng Christophe cho sự quan phòng của Chúa, tin tưởng rằng cậu bé sẽ là con của Ngài. Chúng tôi sẵn sàng dâng phó Christophe cho bất cứ kế hoạch nào Chúa định cho nó.
Sau khi chấp nhận, chúng tôi nói tin đó cho gia đình, bà con, bạn bè và cộng đồng. Chúng tôi nhận được tình yêu thương, hỗ trợ và lời cầu nguyện không dứt thậm chí từ những người mà chúng tôi không hề quen biết. Khách đến với chúng tôi hàng ngày, nhiều người thậm chí còn khóc. Chúng tôi tìm thấy sự an ủi, cảm nhận được tình yêu của Chúa trong tất cả những thứ đang diễn ra. Điều này khiến họ khóc nhiều hơn, mặc dù đến nay, đó là niềm hân hoan. Chúng tôi nhận thức rõ ràng rằng nước Chúa đang hiện diện thông qua sự việc này.
Một ân huệ tuyệt vời khác đó là tìm được một nhóm bác sĩ chăm sóc cho Christophe. Sau này họ trở thành bạn thân nhất của chúng tôi. Rồi con trai tôi được phẫu thuật, khoảng 4 giờ đồng hồ, tế bào ung thư được cắt bỏ hoàn toàn và cậu không còn bị tràn dịch màng não nữa. Một tuần sau đó chúng tôi về nhà, và sau một tháng Christophe đi học trở lại. Mọi kiểm tra cho thấy con tôi đã hết tế bào ung thư, mọi sự tốt hơn. Tất cả những tồi tệ trước đây chỉ còn là cơn ác mộng.
Một đêm sau cuộc phẫu thuật, khi chúng tôi vừa trở về, Christophe hỏi tôi: “Mẹ ơi, mẹ có thấy con can đảm không? “Tất nhiên con yêu” tôi trả lời, “mẹ thậm chí không biết đã phản ứng thế nào nếu điều đó xảy ra với mẹ”. Và tôi đã sửng sốt khi nghe con hỏi: “Giờ con đã biết thế nào là can đảm, can đảm có nghĩa là mọi sự sẽ ổn ngay cả khi sợ hãi, chỉ cần thở sâu và tiếp tục; hãy nói: Cho Ngài, Giê su”.
Sau đó, bác sĩ phẫu thuật nói với tôi rằng tế bào ung thư đó đã phát triển trong ba năm, và chúng tôi kịp thời phát hiện đúng lúc. Điều này làm tôi cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Tôi chợt nhận ra lời cầu nguyện mà tôi nói với Chúa đã khiến ngài cảm động khiến ngài chuẩn bị cho tôi một cách đầy đủ trước khi mọi sự xảy ra. Tôi không hề biết, nhưng Chúa thì biết.
Những giây phút xảy ra trước cuộc phẫu thuật sẽ khiến chúng tôi vô cùng đau khổ. Nhưng nó xảy ra đúng lúc khi chúng tôi đã có sự hiệp nhất, tình yêu thương vĩ đại, sự chia sẻ và chúng tôi nhận ra tài sản của chúng tôi là Chúa, người luôn mong sống giữa chúng tôi một cách rất trực tiếp và quyền lực.
L. F..

Kinh Nghiệm - Thêm Một Người Mẹ

Một phụ nữ trẻ đến bệnh viện để thử nghiệm, vẻ bồn chồn. Đó là cuộc thử nghiệm về thai, và với vẻ hơi kiêu căng cô giải thích là cần gấp, vì muốn phá thai. Đàng sau những gì cô ta nói và thái độ bên ngoài, tôi hiểu rằng cô ta đang trong tình trạng bối rối và khó khăn, nên lúc đó không nhìn ra một giải pháp nào khác cho những vấn đề của mình ngoài việc phá thai. Tôi không nhớ đã nói gì với cô ta, chỉ nhớ là đã thương yêu và lắng nghe, tìm cách nhận lấy cho mình tình trạng mất hướng của cô. Cô ta ở lại với tôi rất lâu, và ra đi vẻ tươi tỉnh hơn, không nói một lời. Sau mấy tháng cô ta lại đến phòng mạch của tôi. Cô chào tôi và hỏi tôi còn nhớ cô không. Tôi trả lời là nhớ, nhưng không dám hỏi cô đã quyết định thế nào sau đó. Cô cầm tay kéo tôi đi theo cô. Bên ngoài hành lang có chiếc xe đẩy trẻ em. Cô mở khăn đậy thêu đầy hoa và quay sang tôi nói: “Thưa bác sĩ, đây là con gái tôi. Lần trước đến đây tôi tuyệt vọng và muốn phá thai. Sau đó bác sĩ lắng nghe tôi, và tôi đã kịp suy nghĩ: suốt đêm tôi đã suy nghĩ và nó đã ra đời”. Sau đó cô ta nói với đứa bé: “Con thấy không? Đây cũng là mẹ của con!”
E.S.

Kinh Nghiệm - Bắt Đầu Lại

Tôi sống cùng 9 anh em sinh viên khác. Cuộc sống của chúng tôi luôn tràn ngập tiếng cười bởi sức trẻ cùng những câu chuyện vui đùa mà chúng tôi bắt đầu mỗi khi bên nhau. Một hôm, trong bữa ăn trưa, chúng tôi rất hào hứng và cười sảng khoái về một câu chuyện. Câu chuyện đó liên quan tới một người anh em mà chúng tôi quen. Chúng tôi thi nhau bàn tán, thêm thắt câu chuyện. Tôi là người làm chuyện đó nhiều hơn cả. Mục đích của tôi là muốn hoà cùng anh em để có tiếng cười tạo bầu khí vui vẻ trong gia đình. Buổi tối hôm đó trong giờ cơm chúng tôi lại tiếp tục câu chuyện ban trưa. Và tôi vẫn là người nói nhiều nhất về chuyện này. Càng lúc câu chuyện càng đi xa hơn bởi nhiều sự tô vẽ. Đang khi chúng tôi cười vui vẻ thì một người anh em lên tiếng phản đối với thái độ không thoải mái và khá gay gắt, vì đối tượng mà chúng tôi đang bàn tán là cháu của người anh em này (tôi đã không để ý chi tiết này khi cùng anh em vui, đùa). Tôi giật mình và thấy sợ vì tôi chưa bao giờ gặp phải sự gay gắt thế này trong gia đình chúng tôi. Ngay lập tức tôi lên tiếng: “Xin lỗi. Xin lỗi. Mình chỉ nói đùa….. Xin lỗi!!!”. Lúc đó bầu khí của chúng tôi trầm hẳn xuống và có gì đó nặng nề. Sau sự việc, tôi cảm thấy có một cái gì đó vô hình rất lớn ngăn cách giữa tôi và người anh em. Có lẽ với người anh em của tôi cũng thế. Tôi biết, lỗi là ở tôi. Tôi đã nói lời xin lỗi với người anh em và với Chúa. Tôi đã cầu xin Chúa trợ lực để tôi có thể bắt đầu lại. Tôi nhận thấy cả tôi và người anh em đó đều không được thoải mái nhưng tôi không thể gặp người anh em và nói: “Chúng ta có thể bắt đầu lại?” như kinh nghiệm của một người sống linh đạo mà tôi đã được nghe. Tôi tự nhủ: Mình phải cố gắng!!! và tôi đã bắt đầu khi cố gắng làm những việc giống như bình thường tôi vẫn làm. Buổi sáng, khi gặp người anh em này, tôi nói: “Hello! Ăn sáng chưa? Không phải đi học à???....”.. Chúng tôi tiếp tục những câu hỏi và những câu trả lời. Tôi đã cố gắng mặc dù tôi thấy ngại ngùng. Và khi tôi đang chuẩn bị bữa trưa, người anh em đã chủ động tới giúp tôi (việc này chưa hề xảy ra trước đó). Người anh em bắt đầu hỏi tôi về bộ phim mà anh biết tôi rất thích, hỏi về nội dung, hỏi về nhân vật,… và bắt đầu xuất hiện những tiếng cười trở lại. Nguời anh em của tôi đã là người yêu mến trước vì thế không quá khó khăn để tôi có thể cùng bắt đầu lại. Ngày ngày trôi qua, cả hai chúng tôi đều cố gắng để bắt đầu lại mặc dù chúng tôi không ai nói với nhau điều đó và chúng tôi cũng không khi nào nhắc lại “tai nạn” đã xảy ra. Đến giờ này, mối quan hệ giữa chúng tôi đã trở lại bình thường và thực sự là tốt đẹp.
L.

Kinh Nghiệm - Tìm Thánh ý Chúa qua sự hiện diện của Chúa Giêsu ở Giữa

Căn đều Hai bênÝ kiến người cha:
Vào khoảng thời gian tháng 4 năm ngoái, con chúng tôi tốt nghiệp. Lúc ấy gia đình chúng tôi rất phân vân để được cho cháu tiếp tục đi học ở nước ngoài theo lời khuyên của gia đình người chị ở Mỹ hay để cháu đi làm.
Lúc đó giữa chúng tôi có những khác biệt về vấn đề này, theo ý kiến của tôi - tôi biết cháu đã có những trưởng thành và có một số kiến thức nhất định để đi làm, thế nhưng về nền tảng đạo đức bản thân cháu chưa đủ để vượt qua được những cám dỗ nếu cháu đi học ở nước ngoài.
Tôi muốn cháu có dịp đào sâu hơn nữa về vấn đề tín lý đức tin trong đạo, về cách sống của Linh Đạo Hiệp Nhất trước khi phó thác cuộc đời mình để tùy ý Chúa hướng dẫn.
Về phần người mẹ:
Theo người chị tôi nói nên gửi cháu sang Mỹ càng sớm càng tốt thì tôi muốn đưa cháu đi ngay sau khi tốt nghiệp, và điều này tôi đã làm các thủ tục giấy tờ xong xuôi chỉ để đi thôi - ý cháu cũng muốn như tôi là sẵn sáng đi Mỹ ngay. Nhưng trong gia đình chúng tôi có sự mâu thuẫn về việc này và để cho ổn thoả, tránh sự xung khắc xảy ra chúng tôi thoả thuận đặt Chúa Giêsu ở giữa, xin Ngài hướng dẫn thêm.
Ngày cháu nhận bằng tốt nghiệp thì tôi phải đi tham dự khoá học khoảng 2 tuần tại Ý. Biết la tôi đi cháu cũng buồn lắm vì không có mẹ cùng dự lễ Tốt nghiệp, cháu có nói với tôi là “hay mẹ ở lại một ngày dự lễ với con rồi đi sau cũng được”. Tôi an ủi bảo đừng lo sẽ có các anh, chị thay mẹ để dự lễ với con. Tôi ra đi với một sự tín thác hết mọi sự trong tay Chúa.
Sau khi bế mạc lễ tốt nghiệp, anh G. đến chúc mừng và hỏi về dự định tương lai của cháu. Anh có đưa ra lời khuyên nên đi học sống về phong trào giống kinh nghiệm cua anh trước đây.
Suy nghĩ của người cha:
Tôi cũng bất ngờ về việc cháu tạm hoãn việc đi học ở Mỹ mà sang Loppiano (một thành phố nhỏ của Linh Đạo Hiệp Nhất, nơi mà mọi người đến từ các quố gia khác nhau trên Thế giới để cùng tập sống kinh nghiệm Yêu mến) một sự thay đổi tôi không ngờ được.
Suy nghĩ của người mẹ:
Thời gian này tôi có gọi điện về hỏi thăm thì được cháu báo cho biết là thay đổi, chọn đi Ý để trau dồi đạo đức tôi rất mừng và đến nay đã được 7 tháng rồi. Tuy ở xa nhưng chúng tôi cảm thấy rất gần vì có sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa chúng tôi thấy được sự bình an.
Qua những email (thư) của cháu gửi về nhà, cháu nói cháu rất vui và tin tưởng tuyệt đối vào Chúa quan phòng, cụ thể là cháu nói rằng tuần vừa rồi Chúa giúp con nhiều lắm mẹ ơi. Đó là hoa trái. Niềm vui đã lan toả đến những người trong gia đình và các anh, chị cùng sống Linh Đạo Hiệp Nhất. Có Chúa Giêsu ở giữa đã đem lại niềm vui bình an giữa hai chúng tôi và con trai chúng tôi.

Góp Nhặt - Một Siêu Thị Nhỏ “Đặc Biệt” ở Indonesia

Tại Medan, miền Bắc đảo Sumatra ở Indonesia, đã nẩy sinh ý tưởng mở một siêu thị nhỏ, nơi mà một số bạn trẻ có thể làm việc một vài giờ trong ngày để họ có thể kiếm thêm một chút thu nhập; trong siêu thị nhỏ này bán những vật dụng cần thiết cơ bản, nơi mà người mua có thể nhận được sự giảm giá đặc biệt, trong một vài trường hợp có thể giảm tới 50%. Ngay cả giá chung của các mặt hàng ở đây cũng rẻ hơn so với giá bình quân ngoài thị trường công cộng, tuy nhiên họ vẫn dành được một chút lợi nhuận để duy trì cửa hàng.
Việc điều hành họat động của Siêu thị được giao cho hai bạn trẻ, đã tốt nghiệp Đại học Kinh tế được một vài năm. Và tên của Siêu thị được các nhân viên chọn là “Kedai One” : “Kedai” nghĩa là: Tiệm bán thực phẩm dự trữ, “One” để diễn tả tinh thần hiệp nhất.
Đồng thời họ cũng thuê được mặt bằng với giá thuê phù hợp, nằm trên con đường chính của thành phố Medan.
Một thành viên của Linh Đạo Hiệp Nhất đã mở một chuỗi khoảng 600 Siêu thị nhỏ như vậy tại Thủ Đô Jakarta, Và đã thành công trong việc quy tụ tất cả các trưởng nhóm lại sẵn sàng tình nguyện cộng tác với nhau để đem hết thời gian cũng như khả năng và kinh nghiệm của mình giúp cho việc khai trương hoạt động này.
Ngày nay, mỗi siêu thị đều có hệ thống máy tính kiểm tra, thống kê hàng tồn kho và giá cả... Mỗi siêu thị có hai bạn trẻ làm việc toàn thời gian và 12 người trẻ khác làm việc bán thời gian tùy theo thời khóa biểu học tập của mỗi người.
Cũng giống như tất cả các hoạt động kinh tế khác trong thời gian khởi sự, với sự ưu đãi về giá cả, việc trả lương cho nhân viên, nên Kedai One vẫn chưa thể cân bằng ngân sach hàng tháng được. Chính vì thế năm nay họ nhận được nguồn trợ cấp từ tổ chức “Nền Kinh Tế Hiệp Thông” (EdC) * để hỗ trợ cho các hoạt động này.
Số người biết đến siêu thị này và các khách hàng tiềm năng cũng ngày một tăng, mang lại niềm tin tưởng cho một tương lai đứng vững của Siêu thị.

(*)

“Nền Kinh Tế Hiệp Thông” là gì?

Nền Kinh Tế Hiệp Thông là một dự án được nảy sinh từ kinh nghiem của Linh Đạo Hiệp Nhất, nhằm quy tụ các doanh nghiệp từ khắp năm châu. Những chủ đầu tư doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ những quy định của dự án, họ quyết định đặt lợi nhuận làm của chung và sử dụng chúng theo 3 mục đích sau:
· Giúp đỡ những người gặp khó khăn, tạo thêm việc làm mới và trợ cấp cho những nhu cầu cần thiết, trước hết từ những người cùng chia sẻ tinh thần của dự án.
· Làm lan rộng “Nền Văn Hóa Trao Ban” và lòng mến, ngoại trừ những gì không giúp cho việc thực hiện Nền Kinh Tế Hiệp Thông.
· Phát triển Doanh nghiệp, để luôn hoạt động có năng xuất và đạt hiệu quả .

Nó đã được sinh ra như thế nào?

Vào Tháng 5, năm 1991 khi Chị Chiara đi ngang qua thành phố San Paolo (Braxin), Chị đã bị ấn tượng bởi sự khác biệt lớn giữa giầu và nghèo, Chị nghĩ: “Ở đây phải nảy sinh ra khu công nghiệp, mà các doanh nghiệp tự nguyện đặt lợi nhuận làm của chung giống như Cộng đoàn các Kitô Hữu Tiên Khởi: trước hết là giúp đỡ những ai có nhu cầu, tạo công ăn việc làm, để không còn những người nghèo khổ nữa. Đồng thời lợi nhuận cũng dùng để phát triển doanh nghiệp, và đào tạo “con người mới”; vì nếu không có những “con người mới” thì không thể tạo nên một xã hội mới!
Với vết thương của sự chia rẽ giữa giàu và nghèo này có thể xây dựng một khu công nghiệp, một niềm hy vọng tại thành phố này”.
Và giấc mơ này của Chị Chiara Lubich đang trở thành hiện thực, rất nhiều doanh nghiệp không chỉ ở Braxin mà trên toàn thế giới họ đang đem vào thực hiện lý tưởng này.





Lời Sống - Tháng 4/2009

“Anh em hãy canh thức, vì không biết ngày nào Chúa của anh em đến” (Mt 24, 42).

Bạn có thấy là thường bạn không sống cuộc sống mình, mà kéo lê nó chờ cho đến “sau này”, khi cái “tốt đẹp” nhất định phải tới không?
Nhất định là điều “tốt đẹp-sau này” phải đến, nhưng nó không phải là điều bạn chờ đợi.
Một bản năng thần linh đưa bạn đến chỗ chờ đợi người nào đó hoặc điều gì đó có thể làm bạn hài lòng. Và có thể bạn nghĩ đến một ngày lễ hội, hoặc đến thời gian rảnh rỗi, hoặc đến một cuộc gặp gỡ đặc biệt... Nhưng những dịp đó qua đi, mà bạn không hài lòng, ít là hoàn toàn. Rồi bạn trở lại cuộc sống đều đều không xác tín, vẫn chờ đợi.
Thực sự là trong số những yếu tố làm nên cuộc đời bạn có một yếu tố không ai thoát được; đó là cuộc gặp gỡ bản thân với Chúa, Đấng sẽ đến. Đó là một điều “tốt đẹp” mà bạn tự nhiên hướng tới, bởi vì bạn đã được dựng nên để được hạnh phúc. Và hạnh phúc tràn đầy thì chỉ có Thiên Chúa mới ban được cho bạn.
Và Đức Giêsu, vì biết bạn và tôi mù quáng thế nào khi tìm kiếm hạnh phúc, nên Người nhắn nhủ chúng ta:

“Anh em hãy canh thức, vì không biết ngày nào Chúa của anh em đến”.

Anh em hãy canh thức. Anh em hãy để ý. Anh em hãy tỉnh thức.
Bởi vì bạn không chắc chắn về nhiều chuyện trên đời, nhưng có một điều chắc chắn bạn không hồ nghi: đó là một ngày bạn sẽ chết. Và đối với người Kitô hữu đó là trình diện trước mặt Đức Kitô, Đấng sẽ đến.
Có thể bạn cũng giống như nhiều người muốn quên đi cái chết. Bạn sợ giây phút đó và sống như thể không có cái chết. Bạn nói bằng cuoc sống trần thế, càng ngày càng gắn chặt vào cuộc sống đó rằng: cái chết làm tôi run sợ, nên nó không có. Trái lại giây phút đó sẽ tới. Bởi vì chắc chắn Đức Kitô sẽ đến.

“Anh em hãy canh thức, vì không biết ngày nao Chúa của anh em đến”.

Với những lời này Đức Giêsu cho biết là Người sẽ đến vào ngày cuối cùng. Người đã lên Trời giữa các môn đệ thế nào thì cũng sẽ trở lại như vậy.
Nhưng những lời này cũng muốn dạy rằng Chúa đen vào lúc kết thúc cuộc sống của mỗi người. Cũng như khi một người chết đi thì đối với người đó thế giới không còn nữa.
Và bởi vì bạn không biết Đức Kitô sẽ đến hôm nay, tối nay, ngày mai hay trong vòng một năm hay nhiều năm nữa, nên bạn phải canh thức. Giống như người ta canh thức vì biết kẻ trộm sẽ đến vơ vét nhà mình, mà không biết giờ nào.
Và nếu Đức Giêsu đến, thì đó có nghĩa là cuộc sống này sẽ qua đi. Nếu là như vậy, thay vì coi thường cuộc sống này, bạn phải cho nó tầm quan trọng nhất. Bạn phải chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ đó bằng một cuộc sống xứng đáng.

“Anh em hãy canh thức, vì không biết ngày nào Chúa của anh em đến”.

Chắc chắn bạn cũng phải canh thức. Cuộc đời bạn không chỉ là một chuỗi những hành động ôn hoà nối tiếp nhau. Cuộc đời đó cũng là một cuộc chiến đấu. Nhiều cám dỗ khác nhau, như về tình dục, hư danh, tiền bạc, bạo lưc, đều là những kẻ thù đầu tiên của bạn.
Nếu bạn luôn canh thức, thì bạn không bị tấn công bất ngờ.
Khi ta yêu mến một người, thì cõi lòng luôn tỉnh thức chờ đợi người đó, và mỗi giây phút qua đi không có người đó đeu được sống vì người đó.
Một người vợ thương yêu cũng làm như vậy khi vất vả chuẩn bị những gì dành cho người chồng vắng mặt: người vợ làm mọi sự vì người chồng. Rồi khi chồng về, trong lời chào vui mừng của vợ gói trọn tất cả mọi công việc vui tươi của một ngày.
Một người mẹ cũng làm như vậy, khi bà nghỉ ngơi đôi chút đang khi săn sóc cho đứa con đau ốm. Bà ngủ, nhưng cõi lòng luôn tỉnh thức.
Người mến yêu Đức Giêsu cũng làm như vậy. Người đó làm mọi sự vì Người, Đấng họ gặp trong mỗi giây phút, khi ý Người được tỏ hiện qua những việc tầm thường, và họ sẽ gặp mặt Người cách long trọng ngày Người đến.
Hôm đó là ngày mồng 3 tháng mười một năm 1974.
Tại thành phố Santa Maria ở miền nam nước Brazil, cuộc họp mặt tinh thần của 250 người trẻ kết thúc, đa số họ đến từ thành phố Pelotas.
Chiếc xe hành khách đầu tiên lên đường với 45 người: những câu ca, niềm vui, nói lên lòng mến yêu Đức Giêsu. Trên đường một số người trẻ cùng nhau đọc kinh Mân côi suy niệm mùa thương và xin Đức Mẹ ơn trung thành với Chúa cho đến chết.
Đến một khúc quặt, vì máy hư, chiếc xe nhào xuống một vực sâu chừng 50 mét, lộn nhào ba vòng. Ba cô gái chết.
Một người sống sót kể: “Tôi thấy cái chết gần kề, nhưng không thấy sợ hãi vì có Chúa ở đó”.
Một người khác nói: “Khi tôi nhận ra là mình có thể cựa quậy, giữa đống đổ nát, tôi nhìn lên trời đầy sao và qùy gối cầu nguyện giữa xác những người bạn, Thiên Chúa ở đó bên cạnh chúng tôi...” Người cha của em Carmen Regina, một trong những nạn nhân, kể lại là đứa con thường bảo ông: “Ba này, chết là hay, vì người ta về sống với Chúa Giêsu”.

“Anh em hãy canh thức, vì không biết ngày nào Chúa của anh em đến”.

Những người trẻ ở Pelotas, vì mến yêu, đã canh thức, và khi Chúa đến họ đã vui vẻ gặp gỡ Người.
C.L.

Đối Thoai - Bỏ Mình và Yêu Mình

Tôi thường nghe các nhà tâm lý học nói về sự tự mãn còn các Linh mục thì nói về sự bỏ mình, vậy ai đúng?
Có thể hiểu, bỏ mình không phải là một từ ngữ phổ biến. Rất nhiều người đang sống trong thời hiện đại tự hỏi liệu nó có giá trị hay không. Các phương tiện truyền thông hiện nay cung cấp cho chúng ta những bức tranh thơ mộng về một cuộc sống thoải mái, và rao bán nhưng lạc thú như những tiện nghi hàng đầu. Thay vì thế, bỏ mình liên quan đến những thực hành khổ chế và chẳng ai thích những điều này. Chúng không phải là những lựa chọn hấp dẫn.
Nhiều người nghĩ rằng, tâm lý học coi bỏ mình là một điều tiêu cực hoặc một sự cản trở đối với sự tự mãn, nhưng nghĩ thế là hiểu sai cho tâm lý học. Hầu hết các nhà tâm lý học đều đồng ý rằng sự trưởng thành của con người hay tình trạng trưởng thành phát triển giữa sự bỏ mình và sự tự khẳng định mình không phải là hai quá trình đối đầu nhau, nhưng là những bước lành mạnh trong quá trình phát triển. Họ không coi từ bỏ và tự mãn là những trạng thái đối đầu cho một nhân cách lành mạnh. Dầu sao, quan sát thông thường xác nhận rằng những người được coi là thành công là những người được đánh giá qua nỗ lực, chăm chỉ, kiên trì và kiên nhẫn. Một tên gọi khác của những điều này là bỏ mình.
Giêsu cũng đặt ra sự từ bỏ như một yêu cầu cho các môn đệ của Ngài. Ngài nói: “Nếu ai muốn theo Ta, người đó phải bỏ mình và vác thập giá mình mỗi ngày mà theo Ta”. Một đoạn văn nổi tiếng nói về “sự hủy mình” (Kenosis) của thánh Phaolô (Phil 2, 1-11) đúc kết cuộc đời Chúa Giêsu và là kim chỉ nam cho đời sống của người Kitô hữu.
“Bỏ mình” không phải là một mệnh lệnh Kitô giáo, hay một nguyên tắc của đời sống thiêng liêng. Bỏ mình được tìm thấy trong mọi tôn giáo lớn và trong mọi học thuyết của các vĩ nhân trên thế giới. Trong Phật giáo hay Ấn giáo, bỏ mình được cho là đường đến sự hoàn thiện của con người.
Như bạn thấy, “bỏ mình” là một truyền thống cổ xưa. Chúa Giêsu đã đưa ra và nhiều vĩ nhân đã phát hiện ra phương thế này để tự phát triển hay tự mãn bằng con đường bỏ mình. Không may thay, cuộc sống hiện đại với thế hệ “tôi là số một” đã tránh né sự khôn ngoan của mọi thời đại.
Có một từ khác cho sự bỏ mình, đó là yêu thương. Hiểu theo nghĩa này, bỏ mình là một giá trị siêu việt. Đó là một nhân đức, nó có thể thay đổi một người và mang đến sự trưởng thành. Và trên hết bỏ mình trở nên dễ dàng và vững vàng để ngay cả trẻ em cũng có thể học và làm theo. Thí dụ khi một người chồng thức dậy vào buổi sáng để thay tã cho con, anh đang thực hiện sự bỏ mình. Nhưng đó còn là một cử chỉ yêu thương, mà người chồng dành cho vợ và con. Một đứa bé mới tập đi có nhu cầu căn bản là đòi quyền sở hữu thì cần được dậy biết từ bỏ - hoặc yêu thương - bằng cách dạy chúng chia sẻ đồ chơi của mình.
Vì thế, đừng sợ từ bỏ. Học yêu thương và từ bỏ trở thành sự tự nhiên và tự phát. Từ bỏ là dấu chỉ của một người đang yêu và một người đang yêu là một người trưởng thành. Không một trường tâm lý nào nghi ngờ về sự thật này, và những vĩ nhân của nhiều thời đại đã xác nhận trong những điều giảng dạy và trong chính những cuộc đời của họ. Nói cách khác, từ bỏ là một cách tự mãn. Bạn có muốn trở thành một trong những người khám phá ra rằng kho tàng có tên là từ bỏ là một con đường yêu thương, một con đường dẫn đến sự tự mãn không?
L.M. A. M.

Suy Niệm - Sự Im Lặng Của Chúa

Thật không thể hiểu nổi, thật lạ thường, đó là điều luôn in đậm sâu xa trong tâm hồn con, việc Chúa ở lại đó im lặng trong nhà tạm. Buổi sáng con đến nhà thờ va gặp Chúa ở đó.
Con chạy đến nhà thờ vì lòng mến yêu và con gặp Chúa ở đó hoặc vì thói quen hay vì lòng tôn kính con gặp thấy Chúa ở đó.
Và mỗi lần Chúa đều nói với con một lời, sửa chữa cho con một tình cảm, trên thực tế Chúa tiếp tục sáng tác với những nốt nhạc khác nhau trong một bài ca duy nhất, mà tâm hồn con thuộc lòng và Chúa lặp lại cho con một lời duy nhất: tình thương muôn thuở.
Ôi lạy Chúa, Chúa đã không thể tạo nên điều gì tốt hơn nữa.
Sự im lặng ấy của Chúa nơi tiếng ồn ào của cuộc sống chúng con tắt lịm, tiếng tim đập thầm lặng ấy thấm sạch mọi giọt nước mắt; sự im lặng ấy… sự im lặng ấy, âm vang hơn một bản hòa tấu thiên thần;
sự im lặng ấy, nói lên Lời cho tâm trí, đem lại niềm an ủi thần thiêng cho tâm hồn;
sự im lặng ấy nơi mọi tiếng nói tìm lại được lối đi của mình, mọi lời cầu nguyện lại cảm thấy được biến đổi; sự hiện diện nhiệm mầu ấy của Chúa… Ở đó là sự sống;
ở đó là sự chờ đợi; ở đó tâm hồn bé nhỏ của chúng con nghỉ ngơi, để không ngừng tiếp tục cuộc hành trình của mình.
C.L.

Linh Đạo - Sống Lời Chúa

Một ngày nọ, Mẹ Têrêsa viết cho tôi, “Hãy nên Thánh, bởi vì Đức Giêsu là Đấng Thánh”. Và cách thức thể hiện là: chúng ta phải nên thánh, có nghĩa là trở thành những vị thánh, vì Đức Giêsu là Thánh. Chúng ta nên thánh bằng việc sống lời Chúa. Chúng ta biết rằng bất kì ai sống theo lời của Ngài thì đã nên thánh rồi hay ít ra vào chính lúc đó. Đức Giêsu đã nói “những ai nghe lời Tôi, nghĩa là đón nhận lời Ngài vào trong tâm hồn của họ và đem ra thực hành, thì tất cả đều được thanh sạch” (x. Ga 15, 3). Nếu đây là sư thật thì khi ấy chắc chắn rằng chúng ta sẽ trở nên thánh bằng việc cố gắng hết sức của chúng ta để thực hành lời Chúa, lời hằng sống của Thiên Chúa trong mọi lúc – ke cả chính lúc này.
Ngày hôm nay, chúng ta muốn hiểu rõ hơn làm sao để sống theo lời Chúa. Chúng ta phải lưu tâm sống theo lời Ngài như là việc quan trọng nhất mà chúng ta phải làm trong đời sống của chúng ta. Bao lần tâm hồn chúng ta bị lôi kéo theo những sự vật trong thế giới chung quanh, hoặc hướng đến những điều bên trong con người mình. Chẳng hạn, rất thường khi chúng ta dành vị trí hàng đầu cho công việc, cho việc tông đồ, việc học, hay thậm chí cho một sở thích hay những trò vui chơi, giải trí. Chúng ta thường bị chi phối bởi những thứ phù phiếm hay bị trói buộc bởi những ham muốn, và thậm chí đôi khi chúng ta làm nô lệ cho những điều làm mất lòng Chúa. Vì thế, trên thực tế, hầu hết thời gian chúng ta hướng tâm trí, tâm hồn, và thúc đẩy ý muốn của chúng ta hướng đến những gì thuộc về trần gian này.
Lời Chúa chiếm vị trí nào trong cuộc sống của chúng ta? Chúng ta rất thường nghĩ về Lời Chúa, và chỉ dừng ở đó thôi. Nhưng đây không phải là lối sống mà Đức Giêsu mong muốn ở nơi chúng ta. Lời Chúa hẳn phải là sự yêu thích đầu tiên của chúng ta, trên bất kì điều gì khác. Lời Chúa phải là trụ cột để nâng đỡ toàn bộ cuộc sống của chúng ta, là nguồn cội cho niềm hy vọng của cuộc sống mai sau. Chính lời Chúa mỗi lúc phải được phản chiếu trong mọi hoạt động của chúng ta, trong từng phút giây. Lời Chúa còn phải được thực hành cách triệt để và đúng đắn trong mọi cảnh huống của đời sống chúng ta.
Chúng ta cùng chiêm ngắm Đức Giêsu. Ngài cũng sống giống như chúng ta. Ngài là một thợ mộc, Ngài làm việc vất vả, Ngài rất nhiệt tình trong công việc tông đồ. Ngài cũng ăn uống, nghỉ ngơi và yêu mến Mẹ Maria và thánh Giuse. Ngài dạy bảo các tông đồ, Ngài làm Phép lạ để nuôi đám đông. Nhưng Đức Giêsu là ai? Ngài có phải là Ngôi Lời của Thiên Chúa làm người không?
Kể từ khi Đức Giêsu, Ngôi lời của Thiên Chúa, tự hủy chính mình để mặc lấy bản tính nhân loại. Chúng ta sẽ được làm người Kitô hữu đúng nghĩa và trở nên thánh nếu chúng ta để cho toàn bộ cuộc sống của chúng ta được thấm nhuần lời của Chúa.
Và chúng ta cũng biết rằng bước theo Đức Giêsu có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ chính mình và phải yêu mến thánh giá. Mọi mục đích chúng ta muốn đạt được đều phải có kỷ luật, hi sinh, vất vả, sự rèn luyện và sự hoàn thiện của người Kitô hữu cũng phải như vậy. Tự hủy và vác thập giá là những từ ngữ khó nghe. Và đó là những gì người Kitô hữu phải làm: sống cuộc tử nạn Đức Giêsu để mọi lúc Ngài có thể sống lại trong chúng ta. Vì vậy, hãy để con người cũ của chúng ta được cắt tỉa, để cây sự sống của chúng ta sẽ cho hoa trái tốt. Chúng ta không muốn đợi chờ cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, khi mà sự chết đã trở nên không thể tránh khỏi, mới dâng mình cho Chúa. Không, vì tình yêu Ngài nói với chúng ta hãy chết từng ngày. Với sự trợ giúp của Ngài, chúng ta sẽ phục sinh từng ngày và từng giây phút của cuộc đời.
C.L.

Gặp Gỡ - Niềm Vui Của Ơn Gọi Độc Thân

Một vài trường hợp mất đức tin nơi các Linh mục đã kích động trên các phương tiện truyền thông và đã có những ý kiến được đặt ra: vấn đề sống độc thân của các Linh mục và người ta bỏ qua những kinh nghiệm của hàng ngàn vạn Linh mục đang sống đời độc thân đầy an vui.
ộc thân Linh mục đang là một đề tài nóng bỏng, đòi hỏi sự lựa chọn độc thân đã trở lại, dù không mạnh mẽ như ở thập niên 60. Một vài trường hợp mất đức tin nơi các Linh mục đã kích động trên các phương tiện truyền thông và đã có những ý kiến được đặt ra, hầu hết là những người ngoài Giáo hội. Đưa ra vấn đề sống đời độc thân Linh mục trong Giáo hội Công Giáo La Tinh, nhưng lại tránh đề cập đến những ý nghĩa thần học, thiêng liêng và mục vụ, và bỏ qua những kinh nghiệm của hàng ngàn vạn Linh mục đang sống đời độc thân của họ đầy an vui.
Các Linh mục thời của tôi đã may mắn không sống trong thời kỳ ngay sau Công Đồng Vatican II. Một thời kỳ được ghi dấu bởi một vài sự xáo trộn về những giá trị truyền thống của Giáo hội như là sự độc thân Linh mục.
Trong trường hợp của chúng tôi, yêu cầu sự chọn lựa độc thân không có vấn đề gì cả, bởi vì sự độc thân của chúng tôi là do chính sự lựa chọn của mình, không ai cưỡng ép chúng tôi phải độc thân, cũng không có gì xảy ra cho chúng tôi khi phải chọn một lối sống khác không phải là ơn gọi Linh mục và cũng không cần phải độc thân.
Trong sự phát triển về ơn gọi của Thiên Chúa, chúng tôi gặp nhiều Linh mục hạnh phúc, sống động, nhân cách phong phú của họ đã lôi cuốn chúng tôi và làm cho chúng tôi một sự thao thức không ngừng “có phải Chúa đã gọi tôi theo Ngài giống như các Linh mục đó”. Và rõ ràng sự hấp dẫn chúng ta cảm thấy bao gồm cả sự độc thân, một lãnh vực thực sự tự do để sống trọn vẹn cho người khác.
Rồi trong thời gian ở chủng viện, ngay khi bắt đầu những môn học đầu tiên, khi học về lịch sử Giáo hội hay giáo luật, chúng ta cũng được học độc thân không phải là điều kiện thiết yếu cho chức Linh mục, nhưng sẽ thuyết phục hơn cho Giáo hội Công Giáo khi sống nó với một cảm nghiệm sống động, chính truyền và triệt để hơn cho sứ vụ Linh mục. Cho nên đối với chúng tôi, không có con đường nào khác hơn là sống từ bỏ mọi sự bao gồm cả gia đình hiện tại và tương lai giống như các Tông đồ đã làm, để xây dựng một gia đình làm nên một cộng đoàn Tông Đồ chung quanh Chúa Giêsu, và gia đình của một cộng đoàn truyền giáo ở bất cứ nơi nào chúng ta được sai đến nhân danh Đức Giêsu.
Tôi không được gọi để đóng một vai trò, cũng không coi đời Linh mục như một nghề nghiệp. Tôi chưa bao giờ nghĩ như thế cũng như không một Linh mục nào mà tôi biết nghĩ về nó hay sống vì nó như thế. Ơn kêu gọi của tôi là theo Đức Giêsu, là trở nên một Đức Giêsu khác, ơn gọi của Ngài cũng chính là ơn gọi của tôi. Ngài đã sống và làm theo ý Cha. Tôi cầu xin ơn Chúa để sống cũng như để làm theo ý Cha. Ngài sống cho người khác, tôi cũng cầu xin để sống cho người khác. Ngài sống độc thân để thực hành sứ vụ của Ngài. Tôi cầu xin ơn sống độc thân để thi hành sứ vụ của tôi. Thực vậy, kinh nghiệm của tôi giống như một Linh mục đã nói rằng sự tín thác để sống độc thân không phải là một sự chinh phục mà là một hồng ân.
Độc thân không phải là thích sống một mình hay bởi từ bỏ bổn phận gia đình. Chúa Giêsu dạy chúng ta yêu mến, thiết lập một gia đình và ở giữa mọi người. Không phải chỉ mình Ngài sống điều đó, nhưng Ngài cũng đưa chúng ta vào cảm nghiệm gia đình của Ba Ngôi Thiên Chúa, nơi mà tình yêu được hoàn tất trong sự hiệp nhất hoàn hảo.
Kẻ thù lớn nhất của sự độc thân là văn hóa chủ nghĩa hưởng lạc ngày nay, mà ảnh hưởng của nó không một ai có thể thoát được khi họ là những người độc thân hay sự tẩy chay bởi một xã hội mà dường như những người không lập gia đình được xem như là không bình thường và chiến thắng cám dỗ xem như là những kết quả khan hiếm.
Tuy nhiên, những khó khăn này sẽ giảm dần khi Linh mục khám phá ra bên kia yếu đuối của mình thì sức mạnh sẽ đến từ sự hiệp thông Kitô giáo, mà không một kinh nghiệm tình cảm và vui mừng nào nơi con người có thể so sánh được.
Sức mạnh hay ân sủng này mà nhiều Linh mục đã đạt được và còn tiếp tục sống trong đời sống hàng ngày của họ qua sự quan phòng của Chúa và bằng muôn vàn cách: với chúng tôi, những anh em Linh mục, ân sủng này đã đến chủ yếu là sự tham dự vào một phong trào Giáo hội, nơi chúng tôi đã tìm thấy sự sung mãn của gia đình Chúa Giêsu và khám phá ra gia đình với Ngài.
Đời sống hiệp thông và hiệp nhất mà tôi cảm nhận trong linh đạo hiệp nhất thì quá mạnh đối với tôi, giống như các Linh mục khác. Độc thân không chỉ là cái ách nhẹ nhàng mà còn là một niềm vui. Bởi vì, đời sống độc thân như là một cách khác để sống như một gia đình, cách cụ thể đó là gia đình Linh mục, một gia đình Tông đồ được tạo nên chung quanh Giám Mục, những người kế vị các Tông đồ và cũng tạo nên một gia đình của cộng đoàn Kitô hữu, tụ họp với nhau dưới sự lãnh đạo của Đức Kitô. Bởi vì những Linh mục không phải là những con người khác thường họ cần tình huynh đệ với các Linh mục khác và tình bằng hữu của cộng đoàn, bởi vì sự nâng đỡ của gia đình Kitô hữu sẽ khiến họ dễ dàng bền đỗ hơn.
Trong suốt năm đầu tiên của sứ vụ linh mục, có một lần tôi đã trở về với tâm hồn mệt mỏi, bối rối và sợ hãi. Khi vừa ra khỏi ngôi trường công lập tôi dạy giáo lý, một thanh niên đã nguyền rủa và đe doạ tôi. Trước mặt nhiều người, anh ta đã cáo gian tôi là đã đánh em gái anh ta là học sinh của tôi. Trên đường về nhà tôi cảm thấy thế giới sụp đổ. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng một phần thưởng như thế cho sự quảng đại của mình.
Khi tôi nhận thấy rằng, tình trạng xáo trộn này, đã bắt đầu gây bối rối cho tôi, tôi quyết định ngay lập tức đđi gặp các Linh mục của nhóm Hiệp Nhất mà tôi đã từng sống với họ. Khi biết họ đang cử hành thánh lễ ở dưới phố. Tôi đã tìm đến với họ, và tôi đã chia sẻ mọi điều với sự lo âu. Nhưng ngay lúc đó, trước khi họ nói, cái nhìn của họ khiến cho những lo âu của tôi tan biến. Chúng tôi trở về nhà hạnh phúc. Sự hiệp nhất của chúng tôi mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Với những người như họ, tôi tìm thấy đời độc thân là một niềm vui.
M.B.

Kinh Nghiệm - Thi Hành Ý Chúa

Vào một buổi tối trời mưa tôi đón xe buýt để đi đến nhà một người bạn. Trên xe có một nhóm thanh thiếu niên đang ngồi tán gẫu vui vẻ. Tôi cũng ngồi xuống vì vẫn còn một chỗ trống.
Một lát sau có một người cao tuổi lên xe và tới gần chỗ của một trong số thanh thiếu niên đó, ông ta bắt đầu lên giọng nói: thiếu giáo dục, không chịu nhường chỗ cho người lớn tuổi và yêu cầu bạn đó dứng dậy… nhưng bạn đó làm thinh và tỏ ra như không có gì xảy ra, vì một người bạn khác nói điều đó phải là tình nguyện không thể ép buộc. Tôi cảm thấy không thể ngồi yên và làm lơ như không có chuyện gì xảy ra được. Lúc đó tôi nhớ lại Lời Sống trong tháng: “Lương thực của Thày là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thày, và hoàn tất công trình của Người”, (Ga 4, 34) tôi đứng lên và mời ông ngồi xuống chỗ của tôi, ông ta càu nhàu một lát rồi sau đó ngồi xuống. Điều này có thể tránh được sự xô xát vô cớ thường xuyên xảy ra trên xe buýt.
Tôi làm việc này là đã đi ngược lại với bản chất tự nhiên nhút nhát của tôi vì biết rằng việc tôi làm sẽ tạo sự chú ý của tất cả hành khách trên xe. Nhưng ý tưởng tôi làm là cho Chúa Giêsu nên chính điều đó đã thúc đẩy tôi làm như vậy. Và qua cử chỉ nhỏ bé này đã đem lại cho tôi một sự bình an đặc biệt trong lòng.
Chiếc xe buýt vẫn tiếp tục lăn banh, và một lát sau lại có một bà cụ lên xe, và chính người đã nói: “đó phải là tình nguyện chứ không thể ép buộc.” đã đứng dậy nhường chỗ cho bà.
M.C.

Kinh Nghiệm - Gặp Chúa Trong Việc Nhỏ

Tôi ăn sáng xong và thấy có rất nhiều thứ như ly chén và xoong nồi của tất cả những người đã sử dụng trước đó cần phải rửa. Thường thì mẹ tôi sẽ rửa tất cả những thứ đó và mỗi khi tôi làm những việc đó thì tôi luôn cảm thấy là tôi đang làm những việc nhỏ mọn nhất trên thế gian này. Điều đó đã cám dỗ tôi là hãy bỏ đi không làm việc đó, nhưng ngay lập tức tôi hiểu được là Thiên Chúa muốn tôi lau rửa tất cả. Vì vậy tôi bắt tay vào rửa. Khi tôi rửa xong thì tôi nhận thấy rất nhiều cánh cửa sổ nhà bếp vẫn đang mở và tôi đã đóng lại. Sau đó tôi thấy máy giặt cũng quá bẩn, và tôi cũng lau sạch; ngay cả cái lò nướng cũng bẩn và tôi cũng làm sạch nó. Rồi trên bàn có rất nhiều miếng bánh vụn còn sót lại, tôi cũng lau sạch. Cuối cùng tôi thấy là càng yêu mến thì càng tìm thấy nhiều cơ hội để yêu mến.
Tôi hiểu được rằng khi lau dọn nhà cửa sạch sẽ là thể hiện những hành động cụ thể của tình yêu, và Chúa Giêsu nhắc lại cho tôi: “Ai yêu mến Thày, thì sẽ được Cha Thày yêu mến. Thày sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”. (Ga 14, 21)
Đối với tôi sáng nay Ngài đã tỏ Mình bị bỏ rơi trong những công việc nhỏ mọn tôi đã làm.
Một vài ngày sau, khi tôi đang rửa ly, thì đúng lúc đó ba tôi xuống ăn sáng, chào tôi một buổi sáng tốt lành và sau đó ba tôi đã làm vệ sinh cái bếp ga!!! Một điều không thể tưởng tượng được vì Ba tôi chưa từng làm việc đó bao giờ!

A

Kinh Nghiệm - Sống Chúa Giêsu Bị Bỏ Rơi

Sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi có cơ hôi được là sinh viên tại Tp. HCM. Như những Sinh viên khác, tôi sống cùng với một nhóm bạn sinh viên. Dễ nhan thấy một điều khác biệt là chúng tôi cùng nhau sống lý tưởng Hiệp nhất nên mọi người coi nhau như chị em trong nhà.
Kết thúc học kỳ II - năm 3 là thời gian tôi được nghỉ hè, tôi dự định rất nhiều trong kỳ hè này để co một khoảng thời gian có ích và một tâm hồn thoải mái cho năm học cuối. Nhưng những điều đó như tan biến đi khi tôi được biết rằng mình mắc phải một căn bệnh nguy hiểm có thể để lại di chứng sau khi phẫu thuật, và tôi đã phải nhập viện ngay. Khi mới biết tin, tôi cảm thấy mình như bị bỏ rơi hoàn toàn. Lúc ấy tôi cố gắng bình tĩnh lại, và tôi nhớ đến Chúa Giêsu Ngài cũng đã có giây phút cảm thấy như bị Chúa Cha bỏ rơi, nhưng Ngài vẫn tin tưởng và phó thác tất cả nơi Thiên Chúa Cha. Tôi tự nhủ: đây chính là cơ hội cho mình sống lý tưởng Hiệp Nhất một cách cụ thể. Tôi đã nhận được sự yêu thương và cảm thông của chị em cùng sống trong nhà. Như được tiếp sức mạnh, tôi nhập viện với sự bình an trong tâm hồn, và đặc biệt tôi luôn cố gắng sống câu lời Chúa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”.
Ca phẫu thuật có thể nói là đã thành công, nhưng lại một lần nữa tôi lại cảm thấy mình như rơi xuống vực sâu. Bác sỹ nói rằng tôi cần phải chuyển qua Bệnh viện K- là một bệnh viện dành cho những người bị bệnh ung thư. Nhưng tôi lại được nhắc nhớ phải tin tưởng và vui tươi khi anh chị em trong nhóm Hiệp Nhất cũng như gia đình luôn thăm hỏi và động viên. Tôi ôm lấy Chúa Giêsu bị bỏ rơi và tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa. Giờ thì tôi đã cảm nhận được những hoa trái khi tôi đã vượt qua tất cả với niem cậy trông vào tình yêu Thiên Chúa dành cho tôi và dành cho tất cả chúng ta. Sức khỏe của tôi nay đã bình phục, tôi cũng xin gửi tới tất cả anh chị em nhóm Hiệp Nhất lời cảm ơn chân thành. Chính Chúa Giêsu ở giữa đã giúp tôi có thêm sức mạnh để vượt qua tất cả.
N.

Kinh Nghiệm - Tình Yêu Chinh Phục Tất Cả

Tôi vừa tốt nghiệp trường Cao Đẳng Công Nghiệp, khi ra trường tôi xin vào làm việc tại một công ty liên doanh với Trung Quốc. Công việc tôi được giao rất phù hợp với chuyên môn tôi đã học, nhưng nó đòi hỏi kinh nghiệm và độ chính xác cao. Tôi rất lo lắng vì mới ra trường chưa có kinh nghiệm và một môi trường làm việc hoàn toàn mới, đồng thời các đồng nghiệp của tôi hầu hết đã tốt nghiệp đại học và đã có kinh nghiệm, nhất là làm việc với người Trung Quốc, ngôn ngữ bất đồng, đồng thời tôi là người trẻ nhất trong công ty. Ngày đầu tiên đi làm, khi đến công ty tôi nở những nụ cười và đi chào tất cả mọi người. Người Việt Nam thì gật đầu, có người nhìn tỏ vẻ khinh chê, có người nhìn tôi hoài nghi, nhiều người tỏ thái độ không thích… Người Trung Quốc thì không có hành động gì.
Trong khi làm việc, có nhiều điều thắc mắc và chưa biết, tôi hỏi đồng nghiệp, họ trả lời qua loa, có người không nói gì cả. Lúc đó trong tôi có một sự mặc cảm rất lớn với mọi người xung quanh.
Tối đó khi về nhà tôi cầu nguyện, liên tiếp những câu lời Chúa lóe lên trông tôi, “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi anh em” (Mt 5, 17).
“Điều Thày truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15, 17).
Tôi đặt những câu hỏi với Chúa, tại sao người ta ghen ghét con? khinh bỉ con? Không thích con mà Chúa lại muốn con yêu thương và cầu nguyện cho họ. Rồi tôi vâng lời, và bắt đầu yêu thương và cầu nguyện cho họ. Sáng hôm sau khi tới Công ty tôi nhìn mọi người bằng “con mắt mới”.
Ở Công ty tôi, mọi người làm việc độc lập, không quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, việc của ai người đó làm. Tôi có một ý tưởng mới là làm cho mọi người phải quan tâm và giúp đỡ lẫn nhau và “yêu thương nhau”. Tôi lo lắng không biết phải làm gì để được như vậy. Và câu lời Chúa đã đánh động tôi. “Bất cứ điều gì anh em làm cho kẻ bé mọn nhất là anh em làm cho chính Ta vậy”. …khi tôi nhìn thấy đồng nghiệp của tôi đang khiêng vật gì nặng mà nếu hai người thì sẽ dễ dàng hơn thì ngay lập tức tôi tới giúp một tay mặc dù họ không nhờ giúp, khi giúp xong họ nhìn tôi với một ánh mắt khác và nói lời cảm ơn tôi, lúc đó tôi cảm thấy thật hạnh phúc. Hoặc khi tan ca tất cả chúng tôi phải làm vệ sinh khu vưc của mình, khi tôi vệ sinh xong chỗ của mình, tôi liền chạy tới giúp các đồng nghiệp khác vệ sinh khu vực của họ, lúc đó tôi cảm nhận được niềm vui của họ và tôi cũng nhận được những lời cảm ơn từ họ. Và tôi cứ tiếp tục làm như vậy, cho tới giờ này thành quả thu được là tôi nhận được tình yêu đáp trả từ các đồng nghiệp của tôi, họ giúp đỡ tôi mọi thứ từ vệ sinh tới kinh nghiệp làm việc… đặc biệt là mọi người coi nhau như người một nhà, thân thiện, cởi mở, yêu thương, quan tâm và giúp đỡ lẫn nhau. Tôi đã nhìn thấy gương mặt Chúa Giêsu trong từng người. Mọi chuyện vui buồn chúng tôi đều chia sẻ cho nhau, công ty lúc nào cũng tràn ngập tiếng cười.
Q

Góp Nhặt - Tổ Chức Thầy Thuốc Không Biên Giới Tại Mi-An-Ma

Ngày 02/5/2008 vừa qua, cơn bão Nargis đổ bộ vào một số vùng của nước Mi-an-ma – (Miến Điện) đã gây thiệt hại lớn về nhân mạng. Hơn một tuần lễ sau đó, phần lớn người dân vẫn còn phải chịu cảnh màn trời chiếu đất, thiếu nước uống, thiếu thức ăn; và chỉ một ít cứu trợ quốc tế đến được với họ.
Ngày 21 tháng 5, 5 chuyến máy bay vận tải của Tổ chức Thầy thuốc Không Biên Giới (MSF) mang hàng cứu trợ đã đến thủ đô Yangon. Tổng lượng hàng hóa cứu trợ là 190 tấn, bao gồm lều bạt, thuốc và y cụ, nước uống và các thiết bị chống ô nhiễm, thực phẩm chức năng được chế biến sẵn để xử lý tình trạng thiếu dinh dưỡng. Lúc bấy giờ, MSF liền triển khai các nhóm công tác trên các lưu vực của vùng đồng bằng, là những nơi cần nhận được sự giúp đỡ nhiều nhất. Họ đã dựng lên những trạm xá lưu động và cố định để cố gắng tiếp cận và phục vụ tổng lượt là 3,5 triệu người dân. Hàng ngàn người sống sót tại những vùng thiệt hại nặng nề nhất phải tiếp tục duy trì sự tồn tại tính từng ngày một. Điều đó càng cho thấy sự thiếu thốn trầm trọng của việc cứu trợ tại nhiều khu vực. Các nhóm y tế của MSF đã tiến hành điều trị các bệnh như tiêu chảy, viêm nhiễm đường hô hấp, sốt rét, sốt xuất huyết và tình trạng kém dinh dưỡng.
Cái chết và sự tàn phá của cơn bão cũng đã gây hậu quả xấu về mặt tâm lý nơi nhiều người dân và MSF cũng đã xúc tiến chương trình điều trị sức khỏe tâm thần như là sự trợ giúp khẩn cấp. Vào đầu tháng 6, các chuyên gia về sức khỏe tâm thần của MSF đã đến Vùng đồng bằng và thiết lập tại đó một chương trình hỗ trợ nhằm huấn luyện các chuyên viên và tư vấn y tế sức khỏe bản địa để trợ giúp những nạn nhân. MSF dự định tiếp tục tăng cường Chương trình trợ giúp này.
Cho đến tháng 7 năm 2008, MSF đã trợ giúp khoảng 460.000 người dân tại vùng đồng bằng Irrawaddy. Với đội ngũ 450 nhân viên làm việc tại nhiều tỉnh khác nhau, MSF đã cung cấp hơn 66.000 sự trợ giúp y tế tính cho đến cuối tháng 7 năm 2008

Góp Nhặt - Đối Thoại Với Do Thái Giáo

Báo Zenit có bài Phỏng Vấn cha Norbert Hofmann, một Viên Chức Trợ Tá Vatican về Tương quan giữa Do Thái Giáo và Công giáo sau hội nghị quốc tế về dối thoại liên tôn được tổ chức tai Budapest, Hung-ga-ry.

PV: Trong việc chuẩn bị cho hội nghị này, các ưu tiên được đặt ra là gì và tại sao tại Budapest?
Cha Hofmann: Đây là lần thứ hai chúng ta tổ chức một hội nghị cấp cao tại Đông Âu. Năm 1990 đã có một cuộc họp tại Prague. Có một cộng đoàn Do Thái lớn lao tại Budapest, như thế cả hai nhóm đã cùng chọn với nhau.
Có một điều khác chúng ta đã làm để chuẩn bị cho cuộc họp. Trước khi họp, chúng tôi đã tiếp xúc với nhau vào một ngày cuối tuần với sáu thanh niên Do Thái giáo và sáu thanh niên Công giáo. Chúng tôi cùng nhau tới một Giáo đường Do Thái và một Thánh Đường Công Giáo để tham dự một Thánh Lễ Công giáo. Chúng muốn dùng cách này để đưa các thế hệ tương lai dấn thân nhập cuộc.
Một lý do quan trọng khi chọn Budapest cho hội nghị là xem cuộc đối thoại diễn tiến thế nào với người Do Thái trong bối cảnh này tại Đông Âu.

PV: Chủ đề của Hội Nghị là “Xã Hội Tôn Giáo và Dân Sự: Viễn Tượng Công giáo và Do Thái Giáo”. Cha có thể tóm lược viễn tượng Công giáo về đề tài này không?
Cha Hofmann: Chúng ta là người có tôn giáo, vì thế đối với chúng ta trung tâm cuộc đối thoại là đức tin. Một khía cạnh của xã hội đương đại là vấn đề thế tục hóa tác động đến đời sống tôn giáo của người Do Thái Giáo cũng như người Công giáo. Làm sao chúng ta có thể ứng phó với thực trạng tục hóa này?
Rồi cũng cần đưa người Hồi giáo dấn thân nhập cuộc. Năm kế, chúng tôi muốn tổ chức một cuộc họp có mặt cả người Hồi giáo. Mỗi người vẫn giữ đạo của mình nhưng có thể liên kết tham gia cuộc đối thoại tôn giáo thực sự và đối diện với những thách thức của xã hội này.

PV: Điểm giống nhau giữa hai bên là gì?
Cha Hofmann: Một điểm giống nhau là tầm quan trọng của tôn giáo và tìm ra căn tính của tôn giáo. Người Công giáo không nên phát triển căn tính của mình trong nhà thờ, mà đúng hơn phải vào trong đời sống xã hội và công cộng. Vì thế, người Do Thái và người Công giáo phải làm việc với nhau, chúng ta có quá nhiều giá trị chung. Chẳng hạn Thập Giới là một nền tảng chung.
Cũng có nhu cầu giúp người nghèo khó và những người sống bên lề xã hội. Có quá nhiều giá trị mà chúng ta có thể cùng nhau thực hiện.

PV: Cha mong đợi gì cho biến cố này?
Cha Hofmann: Các điều mong ước nói chung là đào sâu tình thân hữu giữa người Công giáo và Do Thái giáo trên cấp quốc tế, xúc tiến và đào sâu đối thoại của chúng ta. Chẳng hạn một thầy thông luật Rabbi lần đầu tiên phát biểu tại Rôma ở Thượng Hội Đồng các Giám mục tại Rôma. Đối với tôi, đó là một bước đi quan trọng
Chúng ta phải phát triển hoạt động này và đưa các thế hệ tương lai dấn thân nhập cuộc và cùng làm việc với nhau cả với các Giáo hội Chính thống, vì họ có mặt trong các xứ Đông Âu
Chúng ta phải cộng tác mạnh mẽ hơn với Giáo hội Chính Thống trong tương lai. Vì thế, cả người Công giáo, Chính Thống và Do Thái cùng làm việc với nhau.

PV: Thượng Hội Đồng Các Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa vừa mới kết thúc. Cuộc đại hội này ảnh hưởng đến cuộc họp tại Hung-ga-ry thế nào?
Cha Hofmann: Như Hồng Y [Walter] Kasper nói, Lời Chúa là Lời được Thiên Chúa mặc khải có tầm quan trọng cho cả người Do Thái và người Công giáo. Như thể, việc phát triển học hỏi Kinh Thánh nhiều hơn và tiếp xúc nhiều hơn với Kinh Thánh là điều quan trọng. Đây là một điều quan trọng mà người Do Thái và Công giáo cần phát triển.

PV: Đâu là những đặc điểm của cuộc đối thoại Do Thái - Công giáo tại Đông Âu?
Cha Hofmann: Ta hãy nói người Do Thái tại các xứ Đông Âu chịu nhiều đau khổ đặc biệt dưới chế độ Cộng Sản. Căn tính của họ đã tùy thuộc vào sự kiện lịch sử này. Bây giờ sau khi các xứ này được cởi mở, họ phải tìm được một căn tính mới
Chúng ta là người Công giáo cũng phải sống trong bối cảnh này. Thực sự, tại Budapest, người Do Thái và người Công giáo cùng hiện hữu với nhau. Chúng tôi muốn xem các quan hệ tại các xứ Đông Âu thế nào. Đó là lý do tại sao chúng tôi cũng đã mời Tổng Giám mục Nga. Sẽ có một giám mục từ Ba Lan và từ Belarus. Chúng tôi muốn xem xét chúng ta có thể có tiến bộ trong việc đối thọai tại các nước thuộc Đông Âu thế nào.