Lời Sống - Tháng 4/2009

“Anh em hãy canh thức, vì không biết ngày nào Chúa của anh em đến” (Mt 24, 42).

Bạn có thấy là thường bạn không sống cuộc sống mình, mà kéo lê nó chờ cho đến “sau này”, khi cái “tốt đẹp” nhất định phải tới không?
Nhất định là điều “tốt đẹp-sau này” phải đến, nhưng nó không phải là điều bạn chờ đợi.
Một bản năng thần linh đưa bạn đến chỗ chờ đợi người nào đó hoặc điều gì đó có thể làm bạn hài lòng. Và có thể bạn nghĩ đến một ngày lễ hội, hoặc đến thời gian rảnh rỗi, hoặc đến một cuộc gặp gỡ đặc biệt... Nhưng những dịp đó qua đi, mà bạn không hài lòng, ít là hoàn toàn. Rồi bạn trở lại cuộc sống đều đều không xác tín, vẫn chờ đợi.
Thực sự là trong số những yếu tố làm nên cuộc đời bạn có một yếu tố không ai thoát được; đó là cuộc gặp gỡ bản thân với Chúa, Đấng sẽ đến. Đó là một điều “tốt đẹp” mà bạn tự nhiên hướng tới, bởi vì bạn đã được dựng nên để được hạnh phúc. Và hạnh phúc tràn đầy thì chỉ có Thiên Chúa mới ban được cho bạn.
Và Đức Giêsu, vì biết bạn và tôi mù quáng thế nào khi tìm kiếm hạnh phúc, nên Người nhắn nhủ chúng ta:

“Anh em hãy canh thức, vì không biết ngày nào Chúa của anh em đến”.

Anh em hãy canh thức. Anh em hãy để ý. Anh em hãy tỉnh thức.
Bởi vì bạn không chắc chắn về nhiều chuyện trên đời, nhưng có một điều chắc chắn bạn không hồ nghi: đó là một ngày bạn sẽ chết. Và đối với người Kitô hữu đó là trình diện trước mặt Đức Kitô, Đấng sẽ đến.
Có thể bạn cũng giống như nhiều người muốn quên đi cái chết. Bạn sợ giây phút đó và sống như thể không có cái chết. Bạn nói bằng cuoc sống trần thế, càng ngày càng gắn chặt vào cuộc sống đó rằng: cái chết làm tôi run sợ, nên nó không có. Trái lại giây phút đó sẽ tới. Bởi vì chắc chắn Đức Kitô sẽ đến.

“Anh em hãy canh thức, vì không biết ngày nao Chúa của anh em đến”.

Với những lời này Đức Giêsu cho biết là Người sẽ đến vào ngày cuối cùng. Người đã lên Trời giữa các môn đệ thế nào thì cũng sẽ trở lại như vậy.
Nhưng những lời này cũng muốn dạy rằng Chúa đen vào lúc kết thúc cuộc sống của mỗi người. Cũng như khi một người chết đi thì đối với người đó thế giới không còn nữa.
Và bởi vì bạn không biết Đức Kitô sẽ đến hôm nay, tối nay, ngày mai hay trong vòng một năm hay nhiều năm nữa, nên bạn phải canh thức. Giống như người ta canh thức vì biết kẻ trộm sẽ đến vơ vét nhà mình, mà không biết giờ nào.
Và nếu Đức Giêsu đến, thì đó có nghĩa là cuộc sống này sẽ qua đi. Nếu là như vậy, thay vì coi thường cuộc sống này, bạn phải cho nó tầm quan trọng nhất. Bạn phải chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ đó bằng một cuộc sống xứng đáng.

“Anh em hãy canh thức, vì không biết ngày nào Chúa của anh em đến”.

Chắc chắn bạn cũng phải canh thức. Cuộc đời bạn không chỉ là một chuỗi những hành động ôn hoà nối tiếp nhau. Cuộc đời đó cũng là một cuộc chiến đấu. Nhiều cám dỗ khác nhau, như về tình dục, hư danh, tiền bạc, bạo lưc, đều là những kẻ thù đầu tiên của bạn.
Nếu bạn luôn canh thức, thì bạn không bị tấn công bất ngờ.
Khi ta yêu mến một người, thì cõi lòng luôn tỉnh thức chờ đợi người đó, và mỗi giây phút qua đi không có người đó đeu được sống vì người đó.
Một người vợ thương yêu cũng làm như vậy khi vất vả chuẩn bị những gì dành cho người chồng vắng mặt: người vợ làm mọi sự vì người chồng. Rồi khi chồng về, trong lời chào vui mừng của vợ gói trọn tất cả mọi công việc vui tươi của một ngày.
Một người mẹ cũng làm như vậy, khi bà nghỉ ngơi đôi chút đang khi săn sóc cho đứa con đau ốm. Bà ngủ, nhưng cõi lòng luôn tỉnh thức.
Người mến yêu Đức Giêsu cũng làm như vậy. Người đó làm mọi sự vì Người, Đấng họ gặp trong mỗi giây phút, khi ý Người được tỏ hiện qua những việc tầm thường, và họ sẽ gặp mặt Người cách long trọng ngày Người đến.
Hôm đó là ngày mồng 3 tháng mười một năm 1974.
Tại thành phố Santa Maria ở miền nam nước Brazil, cuộc họp mặt tinh thần của 250 người trẻ kết thúc, đa số họ đến từ thành phố Pelotas.
Chiếc xe hành khách đầu tiên lên đường với 45 người: những câu ca, niềm vui, nói lên lòng mến yêu Đức Giêsu. Trên đường một số người trẻ cùng nhau đọc kinh Mân côi suy niệm mùa thương và xin Đức Mẹ ơn trung thành với Chúa cho đến chết.
Đến một khúc quặt, vì máy hư, chiếc xe nhào xuống một vực sâu chừng 50 mét, lộn nhào ba vòng. Ba cô gái chết.
Một người sống sót kể: “Tôi thấy cái chết gần kề, nhưng không thấy sợ hãi vì có Chúa ở đó”.
Một người khác nói: “Khi tôi nhận ra là mình có thể cựa quậy, giữa đống đổ nát, tôi nhìn lên trời đầy sao và qùy gối cầu nguyện giữa xác những người bạn, Thiên Chúa ở đó bên cạnh chúng tôi...” Người cha của em Carmen Regina, một trong những nạn nhân, kể lại là đứa con thường bảo ông: “Ba này, chết là hay, vì người ta về sống với Chúa Giêsu”.

“Anh em hãy canh thức, vì không biết ngày nào Chúa của anh em đến”.

Những người trẻ ở Pelotas, vì mến yêu, đã canh thức, và khi Chúa đến họ đã vui vẻ gặp gỡ Người.
C.L.

Đối Thoai - Bỏ Mình và Yêu Mình

Tôi thường nghe các nhà tâm lý học nói về sự tự mãn còn các Linh mục thì nói về sự bỏ mình, vậy ai đúng?
Có thể hiểu, bỏ mình không phải là một từ ngữ phổ biến. Rất nhiều người đang sống trong thời hiện đại tự hỏi liệu nó có giá trị hay không. Các phương tiện truyền thông hiện nay cung cấp cho chúng ta những bức tranh thơ mộng về một cuộc sống thoải mái, và rao bán nhưng lạc thú như những tiện nghi hàng đầu. Thay vì thế, bỏ mình liên quan đến những thực hành khổ chế và chẳng ai thích những điều này. Chúng không phải là những lựa chọn hấp dẫn.
Nhiều người nghĩ rằng, tâm lý học coi bỏ mình là một điều tiêu cực hoặc một sự cản trở đối với sự tự mãn, nhưng nghĩ thế là hiểu sai cho tâm lý học. Hầu hết các nhà tâm lý học đều đồng ý rằng sự trưởng thành của con người hay tình trạng trưởng thành phát triển giữa sự bỏ mình và sự tự khẳng định mình không phải là hai quá trình đối đầu nhau, nhưng là những bước lành mạnh trong quá trình phát triển. Họ không coi từ bỏ và tự mãn là những trạng thái đối đầu cho một nhân cách lành mạnh. Dầu sao, quan sát thông thường xác nhận rằng những người được coi là thành công là những người được đánh giá qua nỗ lực, chăm chỉ, kiên trì và kiên nhẫn. Một tên gọi khác của những điều này là bỏ mình.
Giêsu cũng đặt ra sự từ bỏ như một yêu cầu cho các môn đệ của Ngài. Ngài nói: “Nếu ai muốn theo Ta, người đó phải bỏ mình và vác thập giá mình mỗi ngày mà theo Ta”. Một đoạn văn nổi tiếng nói về “sự hủy mình” (Kenosis) của thánh Phaolô (Phil 2, 1-11) đúc kết cuộc đời Chúa Giêsu và là kim chỉ nam cho đời sống của người Kitô hữu.
“Bỏ mình” không phải là một mệnh lệnh Kitô giáo, hay một nguyên tắc của đời sống thiêng liêng. Bỏ mình được tìm thấy trong mọi tôn giáo lớn và trong mọi học thuyết của các vĩ nhân trên thế giới. Trong Phật giáo hay Ấn giáo, bỏ mình được cho là đường đến sự hoàn thiện của con người.
Như bạn thấy, “bỏ mình” là một truyền thống cổ xưa. Chúa Giêsu đã đưa ra và nhiều vĩ nhân đã phát hiện ra phương thế này để tự phát triển hay tự mãn bằng con đường bỏ mình. Không may thay, cuộc sống hiện đại với thế hệ “tôi là số một” đã tránh né sự khôn ngoan của mọi thời đại.
Có một từ khác cho sự bỏ mình, đó là yêu thương. Hiểu theo nghĩa này, bỏ mình là một giá trị siêu việt. Đó là một nhân đức, nó có thể thay đổi một người và mang đến sự trưởng thành. Và trên hết bỏ mình trở nên dễ dàng và vững vàng để ngay cả trẻ em cũng có thể học và làm theo. Thí dụ khi một người chồng thức dậy vào buổi sáng để thay tã cho con, anh đang thực hiện sự bỏ mình. Nhưng đó còn là một cử chỉ yêu thương, mà người chồng dành cho vợ và con. Một đứa bé mới tập đi có nhu cầu căn bản là đòi quyền sở hữu thì cần được dậy biết từ bỏ - hoặc yêu thương - bằng cách dạy chúng chia sẻ đồ chơi của mình.
Vì thế, đừng sợ từ bỏ. Học yêu thương và từ bỏ trở thành sự tự nhiên và tự phát. Từ bỏ là dấu chỉ của một người đang yêu và một người đang yêu là một người trưởng thành. Không một trường tâm lý nào nghi ngờ về sự thật này, và những vĩ nhân của nhiều thời đại đã xác nhận trong những điều giảng dạy và trong chính những cuộc đời của họ. Nói cách khác, từ bỏ là một cách tự mãn. Bạn có muốn trở thành một trong những người khám phá ra rằng kho tàng có tên là từ bỏ là một con đường yêu thương, một con đường dẫn đến sự tự mãn không?
L.M. A. M.

Suy Niệm - Sự Im Lặng Của Chúa

Thật không thể hiểu nổi, thật lạ thường, đó là điều luôn in đậm sâu xa trong tâm hồn con, việc Chúa ở lại đó im lặng trong nhà tạm. Buổi sáng con đến nhà thờ va gặp Chúa ở đó.
Con chạy đến nhà thờ vì lòng mến yêu và con gặp Chúa ở đó hoặc vì thói quen hay vì lòng tôn kính con gặp thấy Chúa ở đó.
Và mỗi lần Chúa đều nói với con một lời, sửa chữa cho con một tình cảm, trên thực tế Chúa tiếp tục sáng tác với những nốt nhạc khác nhau trong một bài ca duy nhất, mà tâm hồn con thuộc lòng và Chúa lặp lại cho con một lời duy nhất: tình thương muôn thuở.
Ôi lạy Chúa, Chúa đã không thể tạo nên điều gì tốt hơn nữa.
Sự im lặng ấy của Chúa nơi tiếng ồn ào của cuộc sống chúng con tắt lịm, tiếng tim đập thầm lặng ấy thấm sạch mọi giọt nước mắt; sự im lặng ấy… sự im lặng ấy, âm vang hơn một bản hòa tấu thiên thần;
sự im lặng ấy, nói lên Lời cho tâm trí, đem lại niềm an ủi thần thiêng cho tâm hồn;
sự im lặng ấy nơi mọi tiếng nói tìm lại được lối đi của mình, mọi lời cầu nguyện lại cảm thấy được biến đổi; sự hiện diện nhiệm mầu ấy của Chúa… Ở đó là sự sống;
ở đó là sự chờ đợi; ở đó tâm hồn bé nhỏ của chúng con nghỉ ngơi, để không ngừng tiếp tục cuộc hành trình của mình.
C.L.

Linh Đạo - Sống Lời Chúa

Một ngày nọ, Mẹ Têrêsa viết cho tôi, “Hãy nên Thánh, bởi vì Đức Giêsu là Đấng Thánh”. Và cách thức thể hiện là: chúng ta phải nên thánh, có nghĩa là trở thành những vị thánh, vì Đức Giêsu là Thánh. Chúng ta nên thánh bằng việc sống lời Chúa. Chúng ta biết rằng bất kì ai sống theo lời của Ngài thì đã nên thánh rồi hay ít ra vào chính lúc đó. Đức Giêsu đã nói “những ai nghe lời Tôi, nghĩa là đón nhận lời Ngài vào trong tâm hồn của họ và đem ra thực hành, thì tất cả đều được thanh sạch” (x. Ga 15, 3). Nếu đây là sư thật thì khi ấy chắc chắn rằng chúng ta sẽ trở nên thánh bằng việc cố gắng hết sức của chúng ta để thực hành lời Chúa, lời hằng sống của Thiên Chúa trong mọi lúc – ke cả chính lúc này.
Ngày hôm nay, chúng ta muốn hiểu rõ hơn làm sao để sống theo lời Chúa. Chúng ta phải lưu tâm sống theo lời Ngài như là việc quan trọng nhất mà chúng ta phải làm trong đời sống của chúng ta. Bao lần tâm hồn chúng ta bị lôi kéo theo những sự vật trong thế giới chung quanh, hoặc hướng đến những điều bên trong con người mình. Chẳng hạn, rất thường khi chúng ta dành vị trí hàng đầu cho công việc, cho việc tông đồ, việc học, hay thậm chí cho một sở thích hay những trò vui chơi, giải trí. Chúng ta thường bị chi phối bởi những thứ phù phiếm hay bị trói buộc bởi những ham muốn, và thậm chí đôi khi chúng ta làm nô lệ cho những điều làm mất lòng Chúa. Vì thế, trên thực tế, hầu hết thời gian chúng ta hướng tâm trí, tâm hồn, và thúc đẩy ý muốn của chúng ta hướng đến những gì thuộc về trần gian này.
Lời Chúa chiếm vị trí nào trong cuộc sống của chúng ta? Chúng ta rất thường nghĩ về Lời Chúa, và chỉ dừng ở đó thôi. Nhưng đây không phải là lối sống mà Đức Giêsu mong muốn ở nơi chúng ta. Lời Chúa hẳn phải là sự yêu thích đầu tiên của chúng ta, trên bất kì điều gì khác. Lời Chúa phải là trụ cột để nâng đỡ toàn bộ cuộc sống của chúng ta, là nguồn cội cho niềm hy vọng của cuộc sống mai sau. Chính lời Chúa mỗi lúc phải được phản chiếu trong mọi hoạt động của chúng ta, trong từng phút giây. Lời Chúa còn phải được thực hành cách triệt để và đúng đắn trong mọi cảnh huống của đời sống chúng ta.
Chúng ta cùng chiêm ngắm Đức Giêsu. Ngài cũng sống giống như chúng ta. Ngài là một thợ mộc, Ngài làm việc vất vả, Ngài rất nhiệt tình trong công việc tông đồ. Ngài cũng ăn uống, nghỉ ngơi và yêu mến Mẹ Maria và thánh Giuse. Ngài dạy bảo các tông đồ, Ngài làm Phép lạ để nuôi đám đông. Nhưng Đức Giêsu là ai? Ngài có phải là Ngôi Lời của Thiên Chúa làm người không?
Kể từ khi Đức Giêsu, Ngôi lời của Thiên Chúa, tự hủy chính mình để mặc lấy bản tính nhân loại. Chúng ta sẽ được làm người Kitô hữu đúng nghĩa và trở nên thánh nếu chúng ta để cho toàn bộ cuộc sống của chúng ta được thấm nhuần lời của Chúa.
Và chúng ta cũng biết rằng bước theo Đức Giêsu có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ chính mình và phải yêu mến thánh giá. Mọi mục đích chúng ta muốn đạt được đều phải có kỷ luật, hi sinh, vất vả, sự rèn luyện và sự hoàn thiện của người Kitô hữu cũng phải như vậy. Tự hủy và vác thập giá là những từ ngữ khó nghe. Và đó là những gì người Kitô hữu phải làm: sống cuộc tử nạn Đức Giêsu để mọi lúc Ngài có thể sống lại trong chúng ta. Vì vậy, hãy để con người cũ của chúng ta được cắt tỉa, để cây sự sống của chúng ta sẽ cho hoa trái tốt. Chúng ta không muốn đợi chờ cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, khi mà sự chết đã trở nên không thể tránh khỏi, mới dâng mình cho Chúa. Không, vì tình yêu Ngài nói với chúng ta hãy chết từng ngày. Với sự trợ giúp của Ngài, chúng ta sẽ phục sinh từng ngày và từng giây phút của cuộc đời.
C.L.

Gặp Gỡ - Niềm Vui Của Ơn Gọi Độc Thân

Một vài trường hợp mất đức tin nơi các Linh mục đã kích động trên các phương tiện truyền thông và đã có những ý kiến được đặt ra: vấn đề sống độc thân của các Linh mục và người ta bỏ qua những kinh nghiệm của hàng ngàn vạn Linh mục đang sống đời độc thân đầy an vui.
ộc thân Linh mục đang là một đề tài nóng bỏng, đòi hỏi sự lựa chọn độc thân đã trở lại, dù không mạnh mẽ như ở thập niên 60. Một vài trường hợp mất đức tin nơi các Linh mục đã kích động trên các phương tiện truyền thông và đã có những ý kiến được đặt ra, hầu hết là những người ngoài Giáo hội. Đưa ra vấn đề sống đời độc thân Linh mục trong Giáo hội Công Giáo La Tinh, nhưng lại tránh đề cập đến những ý nghĩa thần học, thiêng liêng và mục vụ, và bỏ qua những kinh nghiệm của hàng ngàn vạn Linh mục đang sống đời độc thân của họ đầy an vui.
Các Linh mục thời của tôi đã may mắn không sống trong thời kỳ ngay sau Công Đồng Vatican II. Một thời kỳ được ghi dấu bởi một vài sự xáo trộn về những giá trị truyền thống của Giáo hội như là sự độc thân Linh mục.
Trong trường hợp của chúng tôi, yêu cầu sự chọn lựa độc thân không có vấn đề gì cả, bởi vì sự độc thân của chúng tôi là do chính sự lựa chọn của mình, không ai cưỡng ép chúng tôi phải độc thân, cũng không có gì xảy ra cho chúng tôi khi phải chọn một lối sống khác không phải là ơn gọi Linh mục và cũng không cần phải độc thân.
Trong sự phát triển về ơn gọi của Thiên Chúa, chúng tôi gặp nhiều Linh mục hạnh phúc, sống động, nhân cách phong phú của họ đã lôi cuốn chúng tôi và làm cho chúng tôi một sự thao thức không ngừng “có phải Chúa đã gọi tôi theo Ngài giống như các Linh mục đó”. Và rõ ràng sự hấp dẫn chúng ta cảm thấy bao gồm cả sự độc thân, một lãnh vực thực sự tự do để sống trọn vẹn cho người khác.
Rồi trong thời gian ở chủng viện, ngay khi bắt đầu những môn học đầu tiên, khi học về lịch sử Giáo hội hay giáo luật, chúng ta cũng được học độc thân không phải là điều kiện thiết yếu cho chức Linh mục, nhưng sẽ thuyết phục hơn cho Giáo hội Công Giáo khi sống nó với một cảm nghiệm sống động, chính truyền và triệt để hơn cho sứ vụ Linh mục. Cho nên đối với chúng tôi, không có con đường nào khác hơn là sống từ bỏ mọi sự bao gồm cả gia đình hiện tại và tương lai giống như các Tông đồ đã làm, để xây dựng một gia đình làm nên một cộng đoàn Tông Đồ chung quanh Chúa Giêsu, và gia đình của một cộng đoàn truyền giáo ở bất cứ nơi nào chúng ta được sai đến nhân danh Đức Giêsu.
Tôi không được gọi để đóng một vai trò, cũng không coi đời Linh mục như một nghề nghiệp. Tôi chưa bao giờ nghĩ như thế cũng như không một Linh mục nào mà tôi biết nghĩ về nó hay sống vì nó như thế. Ơn kêu gọi của tôi là theo Đức Giêsu, là trở nên một Đức Giêsu khác, ơn gọi của Ngài cũng chính là ơn gọi của tôi. Ngài đã sống và làm theo ý Cha. Tôi cầu xin ơn Chúa để sống cũng như để làm theo ý Cha. Ngài sống cho người khác, tôi cũng cầu xin để sống cho người khác. Ngài sống độc thân để thực hành sứ vụ của Ngài. Tôi cầu xin ơn sống độc thân để thi hành sứ vụ của tôi. Thực vậy, kinh nghiệm của tôi giống như một Linh mục đã nói rằng sự tín thác để sống độc thân không phải là một sự chinh phục mà là một hồng ân.
Độc thân không phải là thích sống một mình hay bởi từ bỏ bổn phận gia đình. Chúa Giêsu dạy chúng ta yêu mến, thiết lập một gia đình và ở giữa mọi người. Không phải chỉ mình Ngài sống điều đó, nhưng Ngài cũng đưa chúng ta vào cảm nghiệm gia đình của Ba Ngôi Thiên Chúa, nơi mà tình yêu được hoàn tất trong sự hiệp nhất hoàn hảo.
Kẻ thù lớn nhất của sự độc thân là văn hóa chủ nghĩa hưởng lạc ngày nay, mà ảnh hưởng của nó không một ai có thể thoát được khi họ là những người độc thân hay sự tẩy chay bởi một xã hội mà dường như những người không lập gia đình được xem như là không bình thường và chiến thắng cám dỗ xem như là những kết quả khan hiếm.
Tuy nhiên, những khó khăn này sẽ giảm dần khi Linh mục khám phá ra bên kia yếu đuối của mình thì sức mạnh sẽ đến từ sự hiệp thông Kitô giáo, mà không một kinh nghiệm tình cảm và vui mừng nào nơi con người có thể so sánh được.
Sức mạnh hay ân sủng này mà nhiều Linh mục đã đạt được và còn tiếp tục sống trong đời sống hàng ngày của họ qua sự quan phòng của Chúa và bằng muôn vàn cách: với chúng tôi, những anh em Linh mục, ân sủng này đã đến chủ yếu là sự tham dự vào một phong trào Giáo hội, nơi chúng tôi đã tìm thấy sự sung mãn của gia đình Chúa Giêsu và khám phá ra gia đình với Ngài.
Đời sống hiệp thông và hiệp nhất mà tôi cảm nhận trong linh đạo hiệp nhất thì quá mạnh đối với tôi, giống như các Linh mục khác. Độc thân không chỉ là cái ách nhẹ nhàng mà còn là một niềm vui. Bởi vì, đời sống độc thân như là một cách khác để sống như một gia đình, cách cụ thể đó là gia đình Linh mục, một gia đình Tông đồ được tạo nên chung quanh Giám Mục, những người kế vị các Tông đồ và cũng tạo nên một gia đình của cộng đoàn Kitô hữu, tụ họp với nhau dưới sự lãnh đạo của Đức Kitô. Bởi vì những Linh mục không phải là những con người khác thường họ cần tình huynh đệ với các Linh mục khác và tình bằng hữu của cộng đoàn, bởi vì sự nâng đỡ của gia đình Kitô hữu sẽ khiến họ dễ dàng bền đỗ hơn.
Trong suốt năm đầu tiên của sứ vụ linh mục, có một lần tôi đã trở về với tâm hồn mệt mỏi, bối rối và sợ hãi. Khi vừa ra khỏi ngôi trường công lập tôi dạy giáo lý, một thanh niên đã nguyền rủa và đe doạ tôi. Trước mặt nhiều người, anh ta đã cáo gian tôi là đã đánh em gái anh ta là học sinh của tôi. Trên đường về nhà tôi cảm thấy thế giới sụp đổ. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng một phần thưởng như thế cho sự quảng đại của mình.
Khi tôi nhận thấy rằng, tình trạng xáo trộn này, đã bắt đầu gây bối rối cho tôi, tôi quyết định ngay lập tức đđi gặp các Linh mục của nhóm Hiệp Nhất mà tôi đã từng sống với họ. Khi biết họ đang cử hành thánh lễ ở dưới phố. Tôi đã tìm đến với họ, và tôi đã chia sẻ mọi điều với sự lo âu. Nhưng ngay lúc đó, trước khi họ nói, cái nhìn của họ khiến cho những lo âu của tôi tan biến. Chúng tôi trở về nhà hạnh phúc. Sự hiệp nhất của chúng tôi mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Với những người như họ, tôi tìm thấy đời độc thân là một niềm vui.
M.B.

Kinh Nghiệm - Thi Hành Ý Chúa

Vào một buổi tối trời mưa tôi đón xe buýt để đi đến nhà một người bạn. Trên xe có một nhóm thanh thiếu niên đang ngồi tán gẫu vui vẻ. Tôi cũng ngồi xuống vì vẫn còn một chỗ trống.
Một lát sau có một người cao tuổi lên xe và tới gần chỗ của một trong số thanh thiếu niên đó, ông ta bắt đầu lên giọng nói: thiếu giáo dục, không chịu nhường chỗ cho người lớn tuổi và yêu cầu bạn đó dứng dậy… nhưng bạn đó làm thinh và tỏ ra như không có gì xảy ra, vì một người bạn khác nói điều đó phải là tình nguyện không thể ép buộc. Tôi cảm thấy không thể ngồi yên và làm lơ như không có chuyện gì xảy ra được. Lúc đó tôi nhớ lại Lời Sống trong tháng: “Lương thực của Thày là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thày, và hoàn tất công trình của Người”, (Ga 4, 34) tôi đứng lên và mời ông ngồi xuống chỗ của tôi, ông ta càu nhàu một lát rồi sau đó ngồi xuống. Điều này có thể tránh được sự xô xát vô cớ thường xuyên xảy ra trên xe buýt.
Tôi làm việc này là đã đi ngược lại với bản chất tự nhiên nhút nhát của tôi vì biết rằng việc tôi làm sẽ tạo sự chú ý của tất cả hành khách trên xe. Nhưng ý tưởng tôi làm là cho Chúa Giêsu nên chính điều đó đã thúc đẩy tôi làm như vậy. Và qua cử chỉ nhỏ bé này đã đem lại cho tôi một sự bình an đặc biệt trong lòng.
Chiếc xe buýt vẫn tiếp tục lăn banh, và một lát sau lại có một bà cụ lên xe, và chính người đã nói: “đó phải là tình nguyện chứ không thể ép buộc.” đã đứng dậy nhường chỗ cho bà.
M.C.

Kinh Nghiệm - Gặp Chúa Trong Việc Nhỏ

Tôi ăn sáng xong và thấy có rất nhiều thứ như ly chén và xoong nồi của tất cả những người đã sử dụng trước đó cần phải rửa. Thường thì mẹ tôi sẽ rửa tất cả những thứ đó và mỗi khi tôi làm những việc đó thì tôi luôn cảm thấy là tôi đang làm những việc nhỏ mọn nhất trên thế gian này. Điều đó đã cám dỗ tôi là hãy bỏ đi không làm việc đó, nhưng ngay lập tức tôi hiểu được là Thiên Chúa muốn tôi lau rửa tất cả. Vì vậy tôi bắt tay vào rửa. Khi tôi rửa xong thì tôi nhận thấy rất nhiều cánh cửa sổ nhà bếp vẫn đang mở và tôi đã đóng lại. Sau đó tôi thấy máy giặt cũng quá bẩn, và tôi cũng lau sạch; ngay cả cái lò nướng cũng bẩn và tôi cũng làm sạch nó. Rồi trên bàn có rất nhiều miếng bánh vụn còn sót lại, tôi cũng lau sạch. Cuối cùng tôi thấy là càng yêu mến thì càng tìm thấy nhiều cơ hội để yêu mến.
Tôi hiểu được rằng khi lau dọn nhà cửa sạch sẽ là thể hiện những hành động cụ thể của tình yêu, và Chúa Giêsu nhắc lại cho tôi: “Ai yêu mến Thày, thì sẽ được Cha Thày yêu mến. Thày sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”. (Ga 14, 21)
Đối với tôi sáng nay Ngài đã tỏ Mình bị bỏ rơi trong những công việc nhỏ mọn tôi đã làm.
Một vài ngày sau, khi tôi đang rửa ly, thì đúng lúc đó ba tôi xuống ăn sáng, chào tôi một buổi sáng tốt lành và sau đó ba tôi đã làm vệ sinh cái bếp ga!!! Một điều không thể tưởng tượng được vì Ba tôi chưa từng làm việc đó bao giờ!

A

Kinh Nghiệm - Sống Chúa Giêsu Bị Bỏ Rơi

Sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi có cơ hôi được là sinh viên tại Tp. HCM. Như những Sinh viên khác, tôi sống cùng với một nhóm bạn sinh viên. Dễ nhan thấy một điều khác biệt là chúng tôi cùng nhau sống lý tưởng Hiệp nhất nên mọi người coi nhau như chị em trong nhà.
Kết thúc học kỳ II - năm 3 là thời gian tôi được nghỉ hè, tôi dự định rất nhiều trong kỳ hè này để co một khoảng thời gian có ích và một tâm hồn thoải mái cho năm học cuối. Nhưng những điều đó như tan biến đi khi tôi được biết rằng mình mắc phải một căn bệnh nguy hiểm có thể để lại di chứng sau khi phẫu thuật, và tôi đã phải nhập viện ngay. Khi mới biết tin, tôi cảm thấy mình như bị bỏ rơi hoàn toàn. Lúc ấy tôi cố gắng bình tĩnh lại, và tôi nhớ đến Chúa Giêsu Ngài cũng đã có giây phút cảm thấy như bị Chúa Cha bỏ rơi, nhưng Ngài vẫn tin tưởng và phó thác tất cả nơi Thiên Chúa Cha. Tôi tự nhủ: đây chính là cơ hội cho mình sống lý tưởng Hiệp Nhất một cách cụ thể. Tôi đã nhận được sự yêu thương và cảm thông của chị em cùng sống trong nhà. Như được tiếp sức mạnh, tôi nhập viện với sự bình an trong tâm hồn, và đặc biệt tôi luôn cố gắng sống câu lời Chúa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”.
Ca phẫu thuật có thể nói là đã thành công, nhưng lại một lần nữa tôi lại cảm thấy mình như rơi xuống vực sâu. Bác sỹ nói rằng tôi cần phải chuyển qua Bệnh viện K- là một bệnh viện dành cho những người bị bệnh ung thư. Nhưng tôi lại được nhắc nhớ phải tin tưởng và vui tươi khi anh chị em trong nhóm Hiệp Nhất cũng như gia đình luôn thăm hỏi và động viên. Tôi ôm lấy Chúa Giêsu bị bỏ rơi và tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa. Giờ thì tôi đã cảm nhận được những hoa trái khi tôi đã vượt qua tất cả với niem cậy trông vào tình yêu Thiên Chúa dành cho tôi và dành cho tất cả chúng ta. Sức khỏe của tôi nay đã bình phục, tôi cũng xin gửi tới tất cả anh chị em nhóm Hiệp Nhất lời cảm ơn chân thành. Chính Chúa Giêsu ở giữa đã giúp tôi có thêm sức mạnh để vượt qua tất cả.
N.

Kinh Nghiệm - Tình Yêu Chinh Phục Tất Cả

Tôi vừa tốt nghiệp trường Cao Đẳng Công Nghiệp, khi ra trường tôi xin vào làm việc tại một công ty liên doanh với Trung Quốc. Công việc tôi được giao rất phù hợp với chuyên môn tôi đã học, nhưng nó đòi hỏi kinh nghiệm và độ chính xác cao. Tôi rất lo lắng vì mới ra trường chưa có kinh nghiệm và một môi trường làm việc hoàn toàn mới, đồng thời các đồng nghiệp của tôi hầu hết đã tốt nghiệp đại học và đã có kinh nghiệm, nhất là làm việc với người Trung Quốc, ngôn ngữ bất đồng, đồng thời tôi là người trẻ nhất trong công ty. Ngày đầu tiên đi làm, khi đến công ty tôi nở những nụ cười và đi chào tất cả mọi người. Người Việt Nam thì gật đầu, có người nhìn tỏ vẻ khinh chê, có người nhìn tôi hoài nghi, nhiều người tỏ thái độ không thích… Người Trung Quốc thì không có hành động gì.
Trong khi làm việc, có nhiều điều thắc mắc và chưa biết, tôi hỏi đồng nghiệp, họ trả lời qua loa, có người không nói gì cả. Lúc đó trong tôi có một sự mặc cảm rất lớn với mọi người xung quanh.
Tối đó khi về nhà tôi cầu nguyện, liên tiếp những câu lời Chúa lóe lên trông tôi, “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi anh em” (Mt 5, 17).
“Điều Thày truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15, 17).
Tôi đặt những câu hỏi với Chúa, tại sao người ta ghen ghét con? khinh bỉ con? Không thích con mà Chúa lại muốn con yêu thương và cầu nguyện cho họ. Rồi tôi vâng lời, và bắt đầu yêu thương và cầu nguyện cho họ. Sáng hôm sau khi tới Công ty tôi nhìn mọi người bằng “con mắt mới”.
Ở Công ty tôi, mọi người làm việc độc lập, không quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, việc của ai người đó làm. Tôi có một ý tưởng mới là làm cho mọi người phải quan tâm và giúp đỡ lẫn nhau và “yêu thương nhau”. Tôi lo lắng không biết phải làm gì để được như vậy. Và câu lời Chúa đã đánh động tôi. “Bất cứ điều gì anh em làm cho kẻ bé mọn nhất là anh em làm cho chính Ta vậy”. …khi tôi nhìn thấy đồng nghiệp của tôi đang khiêng vật gì nặng mà nếu hai người thì sẽ dễ dàng hơn thì ngay lập tức tôi tới giúp một tay mặc dù họ không nhờ giúp, khi giúp xong họ nhìn tôi với một ánh mắt khác và nói lời cảm ơn tôi, lúc đó tôi cảm thấy thật hạnh phúc. Hoặc khi tan ca tất cả chúng tôi phải làm vệ sinh khu vưc của mình, khi tôi vệ sinh xong chỗ của mình, tôi liền chạy tới giúp các đồng nghiệp khác vệ sinh khu vực của họ, lúc đó tôi cảm nhận được niềm vui của họ và tôi cũng nhận được những lời cảm ơn từ họ. Và tôi cứ tiếp tục làm như vậy, cho tới giờ này thành quả thu được là tôi nhận được tình yêu đáp trả từ các đồng nghiệp của tôi, họ giúp đỡ tôi mọi thứ từ vệ sinh tới kinh nghiệp làm việc… đặc biệt là mọi người coi nhau như người một nhà, thân thiện, cởi mở, yêu thương, quan tâm và giúp đỡ lẫn nhau. Tôi đã nhìn thấy gương mặt Chúa Giêsu trong từng người. Mọi chuyện vui buồn chúng tôi đều chia sẻ cho nhau, công ty lúc nào cũng tràn ngập tiếng cười.
Q

Góp Nhặt - Tổ Chức Thầy Thuốc Không Biên Giới Tại Mi-An-Ma

Ngày 02/5/2008 vừa qua, cơn bão Nargis đổ bộ vào một số vùng của nước Mi-an-ma – (Miến Điện) đã gây thiệt hại lớn về nhân mạng. Hơn một tuần lễ sau đó, phần lớn người dân vẫn còn phải chịu cảnh màn trời chiếu đất, thiếu nước uống, thiếu thức ăn; và chỉ một ít cứu trợ quốc tế đến được với họ.
Ngày 21 tháng 5, 5 chuyến máy bay vận tải của Tổ chức Thầy thuốc Không Biên Giới (MSF) mang hàng cứu trợ đã đến thủ đô Yangon. Tổng lượng hàng hóa cứu trợ là 190 tấn, bao gồm lều bạt, thuốc và y cụ, nước uống và các thiết bị chống ô nhiễm, thực phẩm chức năng được chế biến sẵn để xử lý tình trạng thiếu dinh dưỡng. Lúc bấy giờ, MSF liền triển khai các nhóm công tác trên các lưu vực của vùng đồng bằng, là những nơi cần nhận được sự giúp đỡ nhiều nhất. Họ đã dựng lên những trạm xá lưu động và cố định để cố gắng tiếp cận và phục vụ tổng lượt là 3,5 triệu người dân. Hàng ngàn người sống sót tại những vùng thiệt hại nặng nề nhất phải tiếp tục duy trì sự tồn tại tính từng ngày một. Điều đó càng cho thấy sự thiếu thốn trầm trọng của việc cứu trợ tại nhiều khu vực. Các nhóm y tế của MSF đã tiến hành điều trị các bệnh như tiêu chảy, viêm nhiễm đường hô hấp, sốt rét, sốt xuất huyết và tình trạng kém dinh dưỡng.
Cái chết và sự tàn phá của cơn bão cũng đã gây hậu quả xấu về mặt tâm lý nơi nhiều người dân và MSF cũng đã xúc tiến chương trình điều trị sức khỏe tâm thần như là sự trợ giúp khẩn cấp. Vào đầu tháng 6, các chuyên gia về sức khỏe tâm thần của MSF đã đến Vùng đồng bằng và thiết lập tại đó một chương trình hỗ trợ nhằm huấn luyện các chuyên viên và tư vấn y tế sức khỏe bản địa để trợ giúp những nạn nhân. MSF dự định tiếp tục tăng cường Chương trình trợ giúp này.
Cho đến tháng 7 năm 2008, MSF đã trợ giúp khoảng 460.000 người dân tại vùng đồng bằng Irrawaddy. Với đội ngũ 450 nhân viên làm việc tại nhiều tỉnh khác nhau, MSF đã cung cấp hơn 66.000 sự trợ giúp y tế tính cho đến cuối tháng 7 năm 2008

Góp Nhặt - Đối Thoại Với Do Thái Giáo

Báo Zenit có bài Phỏng Vấn cha Norbert Hofmann, một Viên Chức Trợ Tá Vatican về Tương quan giữa Do Thái Giáo và Công giáo sau hội nghị quốc tế về dối thoại liên tôn được tổ chức tai Budapest, Hung-ga-ry.

PV: Trong việc chuẩn bị cho hội nghị này, các ưu tiên được đặt ra là gì và tại sao tại Budapest?
Cha Hofmann: Đây là lần thứ hai chúng ta tổ chức một hội nghị cấp cao tại Đông Âu. Năm 1990 đã có một cuộc họp tại Prague. Có một cộng đoàn Do Thái lớn lao tại Budapest, như thế cả hai nhóm đã cùng chọn với nhau.
Có một điều khác chúng ta đã làm để chuẩn bị cho cuộc họp. Trước khi họp, chúng tôi đã tiếp xúc với nhau vào một ngày cuối tuần với sáu thanh niên Do Thái giáo và sáu thanh niên Công giáo. Chúng tôi cùng nhau tới một Giáo đường Do Thái và một Thánh Đường Công Giáo để tham dự một Thánh Lễ Công giáo. Chúng muốn dùng cách này để đưa các thế hệ tương lai dấn thân nhập cuộc.
Một lý do quan trọng khi chọn Budapest cho hội nghị là xem cuộc đối thoại diễn tiến thế nào với người Do Thái trong bối cảnh này tại Đông Âu.

PV: Chủ đề của Hội Nghị là “Xã Hội Tôn Giáo và Dân Sự: Viễn Tượng Công giáo và Do Thái Giáo”. Cha có thể tóm lược viễn tượng Công giáo về đề tài này không?
Cha Hofmann: Chúng ta là người có tôn giáo, vì thế đối với chúng ta trung tâm cuộc đối thoại là đức tin. Một khía cạnh của xã hội đương đại là vấn đề thế tục hóa tác động đến đời sống tôn giáo của người Do Thái Giáo cũng như người Công giáo. Làm sao chúng ta có thể ứng phó với thực trạng tục hóa này?
Rồi cũng cần đưa người Hồi giáo dấn thân nhập cuộc. Năm kế, chúng tôi muốn tổ chức một cuộc họp có mặt cả người Hồi giáo. Mỗi người vẫn giữ đạo của mình nhưng có thể liên kết tham gia cuộc đối thoại tôn giáo thực sự và đối diện với những thách thức của xã hội này.

PV: Điểm giống nhau giữa hai bên là gì?
Cha Hofmann: Một điểm giống nhau là tầm quan trọng của tôn giáo và tìm ra căn tính của tôn giáo. Người Công giáo không nên phát triển căn tính của mình trong nhà thờ, mà đúng hơn phải vào trong đời sống xã hội và công cộng. Vì thế, người Do Thái và người Công giáo phải làm việc với nhau, chúng ta có quá nhiều giá trị chung. Chẳng hạn Thập Giới là một nền tảng chung.
Cũng có nhu cầu giúp người nghèo khó và những người sống bên lề xã hội. Có quá nhiều giá trị mà chúng ta có thể cùng nhau thực hiện.

PV: Cha mong đợi gì cho biến cố này?
Cha Hofmann: Các điều mong ước nói chung là đào sâu tình thân hữu giữa người Công giáo và Do Thái giáo trên cấp quốc tế, xúc tiến và đào sâu đối thoại của chúng ta. Chẳng hạn một thầy thông luật Rabbi lần đầu tiên phát biểu tại Rôma ở Thượng Hội Đồng các Giám mục tại Rôma. Đối với tôi, đó là một bước đi quan trọng
Chúng ta phải phát triển hoạt động này và đưa các thế hệ tương lai dấn thân nhập cuộc và cùng làm việc với nhau cả với các Giáo hội Chính thống, vì họ có mặt trong các xứ Đông Âu
Chúng ta phải cộng tác mạnh mẽ hơn với Giáo hội Chính Thống trong tương lai. Vì thế, cả người Công giáo, Chính Thống và Do Thái cùng làm việc với nhau.

PV: Thượng Hội Đồng Các Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa vừa mới kết thúc. Cuộc đại hội này ảnh hưởng đến cuộc họp tại Hung-ga-ry thế nào?
Cha Hofmann: Như Hồng Y [Walter] Kasper nói, Lời Chúa là Lời được Thiên Chúa mặc khải có tầm quan trọng cho cả người Do Thái và người Công giáo. Như thể, việc phát triển học hỏi Kinh Thánh nhiều hơn và tiếp xúc nhiều hơn với Kinh Thánh là điều quan trọng. Đây là một điều quan trọng mà người Do Thái và Công giáo cần phát triển.

PV: Đâu là những đặc điểm của cuộc đối thoại Do Thái - Công giáo tại Đông Âu?
Cha Hofmann: Ta hãy nói người Do Thái tại các xứ Đông Âu chịu nhiều đau khổ đặc biệt dưới chế độ Cộng Sản. Căn tính của họ đã tùy thuộc vào sự kiện lịch sử này. Bây giờ sau khi các xứ này được cởi mở, họ phải tìm được một căn tính mới
Chúng ta là người Công giáo cũng phải sống trong bối cảnh này. Thực sự, tại Budapest, người Do Thái và người Công giáo cùng hiện hữu với nhau. Chúng tôi muốn xem các quan hệ tại các xứ Đông Âu thế nào. Đó là lý do tại sao chúng tôi cũng đã mời Tổng Giám mục Nga. Sẽ có một giám mục từ Ba Lan và từ Belarus. Chúng tôi muốn xem xét chúng ta có thể có tiến bộ trong việc đối thọai tại các nước thuộc Đông Âu thế nào.